Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. 1 Tổng quan về đột quỵ 1.1 Định nghĩa đột quỵ Theo WHO, đột quỵ là sự xảy ra đột ngột các thiếu sót thần kinh thường là khu trú hơn là lan tỏa. Các triệu chứng tồn tại quá 24 giờ hoặc người bệnh tử vong trong 24 giờ, loại trừ nguyên nhân do chấn thương sọ não. Theo ước tính, mỗi năm có khoảng 15 triệu người bị đột quỵ, trong đó có hơn 5 triệu người tử vong và khoảng 5 triệu người bị di chứng tàn phế vĩnh viễn.
Cũng theo số liệu thống kê của WHO hiện nay đột quỵ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 trên phạm vi toàn thế giới sau tử vong do bệnh mạch vành và do ung thư [35]. Phân loại và đặc điểm Tổ chức não bị tổn thương dẫn đến mất chức năng đột quỵ có nhiều kiểu và được xếp thành 2 loại gồm [16],[35]: + Đột quỵ thiếu máu não cục bộ hay nhồi máu não do tắc động mạch nuôi dưỡng vùng tổ chức não, có nguyên nhân chủ yếu là do vữa xơ các mạch máu nuôi dưỡng não hoặc ngoài sọ và tắc mạch do huyết khối trong các bệnh tim nhất là bệnh tim có rung nhĩ. + Đột quỵ chảy máu não hay xuất huyết não là do vỡ mạch máu bên trong hoặc quanh não dẫn đến chảy máu não trong tổ chức não hoặc dưới màng nhện. Mô phỏng 2 thể đột quỵ xuất huyết não và thiếu máu cục bộ não.
Nguồn: Heart and Stroke Foundation of Canada 5 Bảng 1. Loại đột quỵ và đặc điểm. Nguồn: Wolfe & Rudd, 2008 Loại đột quỵ Đặc điểm Tắc đột ngột động mạch cấp máu tới não Các triệu chứng kéo dài ≥24 giờ Có thể ảnh hưởng các động mạch rất nhỏ trong não Thiếu máu não cục bộ Các nguyên nhân có thể là: ( nhồi máu não) + Hẹp động mạch ( đột quỵ vữa xơ động mạch ) + Cục máu đông hình thành trong động mạch + Cục máu đông hoặc mảng tổ chức từ nơi khác đến Chảy máu trong não hoặc do vỡ mạch Các triệu chứng kéo dài ≥24 giờ Nguyên nhân vỡ mạch có thể là: + Bị xung yếu ( ví dụ: phình mạch) Xuất huyết não + Bị dị dạng ( ví dụ: dị dạng Động- Tĩnh mạch) + Sau chấn thương ( ví dụ: chấn thương vùng đầu) Chảy máu mô nềm của não ( xuất huyết nội sọ) Chảy máu ở khoang não và hộp sọ ( xuất huyết dưới nhện) 1. Dấu hiệu nhận biết sớm đột quỵ Biểu hiện lâm sàng của mỗi loại đột quỵ là khác nhau phụ thuộc vào loại đột quỵ và vùng não bị tổn thương.
Tuy nhiên đột quỵ nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ để người bệnh đột quỵ nhận được điều trị càng sớm càng tốt là vô cùng quan trọng.[10], [31], [22] Năm dấu hiệu cảnh báo đột quỵ bao gồm: 1. Đột ngột tê hoặc yếu nửa mặt, một tay hoặc chân (đặc biệt là cùng một bên cơ thể) 2. Đột ngột rối loạn nói hoặc nhận thức 3. Đột ngột rối loạn nhìn một hoặc cả hai mắt 4.
Đột ngột bước khó, chóng mặt, mất thăng bằng hoặc mất sự phối hợp 6 5. Đột ngột đau đầu dữ dội mà không có nguyên nhân biết trước. Yếu tố và nguy cơ của đột quỵ Có hai loại yếu tố nguy cơ là kiểm soát và không thể kiểm soát được [20], [21], [35] 1.1 Các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát – Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với đột quỵ. Khi áp lực của máu lên thành động mạch quá cao, có thể làm mạch máu suy yếu dần và cuối cùng dẫn đến đột quỵ – Xơ vữa động mạch: trong yếu tố nguy cơ này, các mảng chất béo tích tụ ở trong thành động mạch sẽ chặn hoặc làm thu hẹp mạch máu, có thể dẫn đến đột quỵ.
– Bệnh tim: bệnh mạch vành, suy tim, bệnh cơ tim giãn nở và các bệnh về tim khác làm người bệnh có nguy cơ đột quỵ cao hơn so với những người có trái tim bình thường – Nồng độ cholesterol cao: dư thừa cholesterol trong máu làm tăng nguy cơ phát triển bệnh tim và xơ vữa động mạch – Hút thuốc lá: hút thuốc lá làm giảm nồng độ oxy trong máu, buộc tim phải làm việc nhiều hơn và tạo điều kiện cho các cục máu đông hình thành dễ dàng hơn. – Rung tâm nhĩ: rung nhĩ là loại rối loạn nhịp tim thường gặp nhất, gây hồi hộp, đánh trống ngực, khó thở… Bệnh làm tăng nguy cơ tai biến mạch máu não tăng gấp 5 lần, dễ dẫn đến thuyên tắc mạch. – Bệnh tiểu đường: người bệnh tiểu đường phải đối mặt với nguy cơ cao bị đột quỵ vì họ thường có những vấn đề khác về sức khỏe và các yếu tố nguy cơ đột quỵ, trong đó có tăng huyết áp, cholesterol cao và bệnh tim. – Thừa cân hoặc béo phì: béo phì cùng với ít vận động làm tăng nguy cơ tăng huyết áp hoặc tiểu đường.
– Các rối loạn máu: các rối loạn máu như bệnh hồng cầu hình liềm hoặc thiếu máu nặng có thể gây ra đột quỵ, nếu không được điều trị. 7 – Uống rượu quá nhiều: một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên kết giữa việc tiêu thụ quá nhiều rượu với nguy cơ đột quỵ. – Các loại chất kích thích, chẳng hạn như cocaine, heroin là những yếu tố nguy cơ có thể gây đột quỵ. Các yếu tố nguy cơ không thể kiểm soát – Tuổi: Đột quỵ có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thậm chí ở trẻ em nhưng phổ biến hơn ở người lớn tuổi.
Từ 55 tuổi, nguy cơ đột quỵ tăng gấp đôi sau 10 năm. – Giới tính: Đột quỵ phổ biến hơn ở nam giới nhưng phụ nữ chiếm hơn một nửa số ca tử vong do đột quỵ. – Tiền sử gia đình: nguy cơ đột quỵ tăng lên nếu trong gia đình có một thành viên đã từng bị nhồi máu cơ tim khi còn trẻ. – Đã từng bị đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim trước đây: nguy cơ bị đột quỵ lần 2 cao hơn nhiều ở những người đã từng bị đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim trong quá khứ.
– Cơn thiếu máu não thoáng qua: cơn thiếu máu não thoáng qua có thể là tiền thân của một cơn đột quỵ thiếu máu cục bộ. – Bất thường ở động mạch: nguy cơ đột quỵ xuất huyết tăng lên nếu một người có chứng phình mạch (tại nơi túi phình hình thành thì mạch máu trở nên mỏng và yếu hơn) trong hộp sọ. Dị dạng động tĩnh mạch là một yếu tố nguy cơ đột quỵ do xuất huyết. Hậu quả của đột quỵ: Đột quỵ có thể là 1 trong 2 loại kể trên.
Tuy nhiên đều gây ra cùng 1 hậu quả đó là làm cho tế bào bị đói ôxy và dinh dưỡng dẫn đến chết tế bào não. Chết tế bào não đầu tiên xảy ra ở vùng lõi (core) và tiếp tục lan rộng theo thời gian ra vùng lân cận còn gọi là vùng tranh tối tranh sáng (penumbra) được coi là vùng có thể cứu vãn được vì tổn thương có thể đảo ngược được nếu được cung cấp máu nhanh chóng trở lại [10], [35] ( Hình 1. Mô phỏng tiến triển tổn thương tổ chức não trong đột quỵ Không giống như nhiều bộ phận khác trong cơ thể, tế bào não không được dự trữ năng lượng cho những trạng thái khẩn cấp, mà phụ thuộc hoàn toàn vào sự cấp máu liên tục tới não. Do vậy sự gián đoạn cung cấp máu tới tổ chức não càng kéo dài thì tổn thương não càng nhiều và tình trạng người bệnh càng trầm trọng [10], [35] Đột quỵ là bệnh lý nặng nề, diễn biến phức tạp.
Ngoài việc gây nên tỷ lệ tử vong cao, nếu sống sót cũng để lại nhiều di chứng, khiếm khuyết, giảm chức năng và tàn tật, ảnh hưởng lớn cho xã hội, gia đình và chính bản thân người bệnh. Chi phí cho đột quỵ vô cùng lớn như ở Hoa Kỳ, mỗi năm chi 7 tỷ đôla. Sau khi ra viện, chi phí cho mỗi người bệnh tại cơ sở PHCN là 19 đô la, tổng chi phí 1 năm cho đột quỵ là 17 tỷ đô [35] .Ở nghiên cứu khác cũng cho thấy, các chi phí của đột quỵ là rất lớn những thiệt hại cho gia đình và bạn bè của một người thân yêu, và sự mất mát cho xã hội trong những đóng góp tiềm năng của một người quan trọng và có giá trị. Về mặt kinh tế, chi phí của đột quỵ được sinh ra bởi các cá nhân và gia đình, chính phủ và quốc gia.
Trên thế giới, 15 triệu người bị đột quỵ mỗi năm. Trong số này, hơn 5 triệu chết và gần 1 triệu người vô hiệu hóa vĩnh viễn [WHO 2004]. Đột quỵ là nguyên nhân chính gây tử vong sớm và khuyết tật lâu dài, đặt một gánh nặng cho các cá 9 nhân, gia đình và xã hội [35]. Tình hình đột quỵ trên Thế giới và Việt Nam 1.
Thế giới Ở nhiều nước phát triển tỷ lệ đột quỵ đang giảm mặc dù số lượng thực tế của đột quỵ ngày càng tăng do dân số già. Ở Trung Quốc, 1,3 triệu người bị đột quỵ mỗi năm và 75% sống với mức độ khuyết tật khác nhau. Dự báo trong hai thập kỷ tiếp theo tỷ lệ tử vong đột quỵ do đột quỵ tăng gấp 3 lần ở Mỹ Latinh, Trung Đông và châu Phi cận Sahara. [26] Đột quỵ là một bệnh thường gặp, theo Tổ chức điều trị dự phòng Đột quỵ Châu Âu (1993) số người mắc đột quỵ lần đầu dao động trong phạm vi từ 141 – 219/100.000 dân [4] Hiệp Hội tim mạch Hoa Kỳ (1999) ước tính mỗi năm có khoảng 500.000 người mỹ bị Đột quỵ lần đầu hoặc tái phát, trong đó có khoảng 150.000 trường hợp tử vong, chiếm 1/10 tổng số tử vong do mọi nguyên nhân.
Chi phí điều trị PHCN Đột quỵ ở Hoa Kỳ xấp xỉ 40 tỷ đô la Mỹ [13] Tại Pháp, tỷ lệ mắc Đột quỵ ở người trẻ từ 10-30/100.000 dân/năm, chiếm 5% toàn bộ các trường hợp Đột quỵ. Ở Châu Á, nhiều nghiên cứu cho thấy các nước có nền công nghiệp phát triển cao như: Nhật Bản, Hàn Quốc,…. có tỷ lệ người bệnh bị Đột quỵ tương đương các nước phát triển ở Châu Âu. Còn các nước khác tình hình Đột quỵ đang tăng lên, có nơi ở mức nghiêm trọng [5] Theo tài liệu của TCYTTG (Murray, 1996), năm 1990 ước tính có tới 2,1 triệu người tử vong vì Đột quỵ tại Châu Á, bao gồm 1,3 triệu người ở Trung Quốc 448.000 người ở Ấn Độ [35] 1.