Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống Thủy lợi Bắc Hưng Hải là một trong những đại công trình thủy nông trọng yếu bậc nhất vùng đồng bằng sông Hồng với tổng diện tích tự nhiên 214.932 ha, diện tích trong đê đạt 185.600 ha và diện tích đất canh tác nông nghiệp lên tới khoảng 150.200 ha. Trọng tâm của hệ thống bao trùm toàn bộ tỉnh Hưng Yên gồm 10 huyện, thành phố, cùng nhiều khu vực lân cận của tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh và thành phố Hà Nội. Đối với tỉnh Hưng Yên, nền kinh tế có diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm 56.413 ha (khoảng 61% diện tích tự nhiên), đóng góp sản lượng lương thực quy thóc đạt 537.090 tấn/năm.

Tuy nhiên, trước tác động phức tạp của biến đổi khí hậu toàn cầu và sự thay đổi chế độ dòng chảy do quá trình vận hành các hồ chứa thủy điện thượng nguồn, mực nước mùa kiệt trên lưu vực sông Hồng đã sụt giảm xuống mức thấp kỷ lục trong hơn 100 năm qua. Điển hình vào năm 2006, mực nước sông Hồng tại trạm đầu mối cống Xuân Quan hạ xuống chỉ còn +1,42 m, gây khó khăn nghiêm trọng cho công tác lấy nước tự chảy. Hàng chục ngàn hecta cây trồng đứng trước nguy cơ thiếu nước, trong đó diện tích hạn hán ghi nhận năm 2005 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên lên tới 3.996 ha.

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật của tác giả Trần Tuấn Khang, thực hiện tại Trường Đại học Thủy Lợi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Việt Hòa (hoàn thành tháng 12 năm 2010), được xây dựng nhằm giải quyết bài toán cấp bách trên. Đề tài tập trung thiết lập cơ sở khoa học và thực tiễn, phân tích động lực dòng chảy và đề xuất các giải pháp công trình, phi công trình nhằm nâng cao năng lực cấp nước tưới mùa kiệt cho 46.721 ha đất canh tác trong đê của tỉnh Hưng Yên. Mục tiêu cốt lõi là nâng mức bảo đảm tưới toàn hệ thống từ 75% lên 85%, đồng thời hài hòa mâu thuẫn giữa nhu cầu phát điện của các nhà máy thủy điện phía thượng lưu và yêu cầu cấp nước sản xuất, dân sinh ở vùng hạ du.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) và nguyên lý điều tiết dòng chảy hệ thống bậc thang hồ chứa đa mục tiêu. Lý thuyết thủy lực công trình và dòng chảy không ổn định trong hệ thống sông ngòi, kênh dẫn hở được ứng dụng để mô phỏng cơ chế truyền sóng lũ, sóng xả và hiện tượng dao động mực nước vùng hạ du.

Đề tài tích hợp các khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm:

  1. Dòng chảy kiệt và dòng chảy sinh thái: Duy trì lưu lượng xả hạ du tối thiểu không dưới 600 m3/s để đảm bảo môi trường sinh thái và mực nước vận hành trạm bơm.
  2. Hệ số tưới mặt ruộng (q): Định mức cấp nước thiết kế đạt q = 1,15 l/s/ha và hệ số tưới ải vụ chiêm xuân đạt 0,95 l/s/ha.
  3. Hệ số lợi dụng kênh mương: Giá trị tính toán quy chuẩn η = 0,85 nhằm phản ánh mức độ hao hụt dọc tuyến dẫn 3.515 km kênh mương nội đồng.
  4. Tần suất bảo đảm cấp nước (P%): Tiêu chuẩn thiết kế nâng cao ở mức P = 85% cho toàn bộ 4 tiểu khu thủy nông Hưng Yên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn quan trắc liên tục trong suốt 55 năm (từ năm 1955 đến năm 2010) tại các trạm Hưng Yên, Triều Dương và Bần. Cỡ mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp khảo sát toàn diện 100% không gian hành chính gồm 10 huyện, thành phố của tỉnh Hưng Yên, đồng thời bao quát toàn bộ 415 trạm bơm tưới tiêu động lực với tổng lưu lượng 1.500 m3/h và tổng công suất đặt máy 40.078 kW.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích hệ thống kết hợp mô hình toán thủy lực (họ mô hình MIKE 11, MIKE BASIN và HEC-RAS) là nhằm mô phỏng chính xác sự biến động mực nước theo từng thời đoạn 10 ngày (tuần) và từng tháng trong mùa kiệt (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau). Việc kết hợp phân tích thống kê toán học xác suất với phương pháp lấy ý kiến chuyên gia đầu ngành tại Viện Quy hoạch Thủy lợi giúp luận văn xử lý khối lượng dữ liệu thực nghiệm lớn, đảm bảo độ tin cậy khoa học cao trong giai đoạn đánh giá 2005 - 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa và mô phỏng số liệu đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về thực trạng cấp nước mùa kiệt của hệ thống Thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn Hưng Yên:

Thứ nhất, mực nước nguồn sông Hồng suy giảm nghiêm trọng ngoài dự báo thiết kế ban đầu. Trong giai đoạn 2003 - 2006, mực nước sông Hồng tại Hà Nội nhiều thời điểm hạ xuống dưới mức 1,5 - 1,6 m (dưới cao trình tối thiểu cho tàu thuyền lưu thông 1,6 m). Tại cống đầu mối Xuân Quan, mực nước mùa kiệt dao động ở mức thấp 1,42 - 1,47 m, thấp hơn cao trình thiết kế lấy nước tự chảy (+1,85 m), khiến khả năng mở cống lấy nước tự chảy giảm trên 65% so với quy chuẩn thiết kế 92 m3/s ban đầu.

Thứ hai, hiện tượng "đứt dòng chảy" hạ du xảy ra cục bộ do quy trình vận hành phát điện ban đêm của hồ thủy điện Hòa Bình. Thống kê giai đoạn các tháng 12, tháng 1 và tháng 2 các năm 2005 - 2006 cho thấy lưu lượng xả ban đêm của hồ Hòa Bình có lúc chỉ đạt 20 - 50 m3/s, khiến dòng chảy hạ du gần như bị gián đoạn, làm các trạm bơm ven sông Hồng và sông Luộc không đủ cột nước để vận hành máy bơm.

Thứ ba, sự phân bố hạn hán mang tính cục bộ và không đồng đều giữa các tiểu khu. Báo cáo thống kê diện tích hạn hán năm 2005 đạt 3.996 ha, trong đó tập trung cao nhất tại huyện Kim Động với 840 ha (chiếm 21,0%), Khoái Châu 720 ha (chiếm 18,0%), Tiên Lữ 650 ha (chiếm 16,3%), và Văn Giang 480 ha (chiếm 12,0%). Nguyên nhân xuất phát từ việc lòng dẫn sông trục Kim Sơn (34 km), sông Điện Biên (22 km) và kênh mương bị bồi lắng từ 0,3 - 0,5 m, làm lưu lượng truyền tải ở cuối kênh sụt giảm 30%.

Thứ tư, hiệu suất hệ thống công trình trạm bơm suy giảm theo thời gian. Trong tổng số 415 trạm bơm của tỉnh (143 trạm do doanh nghiệp nhà nước quản lý và 272 trạm do địa phương quản lý), hơn 40% máy bơm loại công suất 1.000 m3/h đã vận hành liên tục từ 30 đến 40 năm, máy móc cũ kỹ, hết thời gian khấu hao dẫn đến tiêu hao điện năng tăng thêm 18 - 25% so với định mức kỹ thuật.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng thiếu nước mùa kiệt tại Hưng Yên bắt nguồn từ sự kết hợp bất lợi giữa yếu tố khí hậu tự nhiên và công tác điều hành liên hồ chứa. Về tự nhiên, lượng mưa mùa khô chỉ đạt 24 - 87 mm/tháng, chiếm từ 10% đến 20% tổng lượng mưa cả năm (1.539 mm), trong khi lượng bốc hơi mùa khô lên tới 700 - 900 mm. Về nhân tạo, trước đây việc điều tiết hồ Hòa Bình và Thác Bà chủ yếu ưu tiên chống lũ và phát điện theo kế hoạch mùa vụ chung mà chưa có quy trình xả cụ thể theo tuần đổ ải của vụ Đông Xuân.

Các dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm có thể được biểu diễn trực quan thông qua bảng ma trận cân bằng nước 4 tiểu khu thủy lợi (Bắc Kim Sơn: 20.988 ha, Châu Giang: 22.048 ha, Ân Thi - Đường 39: 17.520 ha, Tây Nam Cửu An: 31.753 ha) và biểu đồ đường tương quan (Trendline) giữa lưu lượng xả từ các hồ chứa thượng nguồn (Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà) với mực nước hạ lưu cống Xuân Quan. Phân tích này khẳng định rằng nếu hồ Hòa Bình tăng lưu lượng xả liên tục thêm 300 - 400 m3/s trong thời kỳ đổ ải, mực nước tại Xuân Quan sẽ được nâng thêm 17 - 20 cm, đủ điều kiện kích hoạt 1.063 tổ máy bơm vận hành an toàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả tính toán khoa học, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ:

  1. Xây dựng và ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa mùa kiệt: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam thiết lập khung điều phối xả nước tập trung 2 - 3 đợt xả tăng cường từ các hồ Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang. Mục tiêu duy trì lưu lượng xả liên tục tối thiểu đạt 600 - 800 m3/s và khống chế mực nước sông Hồng tại Hà Nội không thấp hơn +2,2 m trong các tuần cao điểm đổ ải từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm.
  2. Nạo vét khơi thông lòng dẫn và kiên cố hóa hệ thống kênh mương: Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên cùng Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Bắc Hưng Hải thực hiện nạo vét hạ thấp cao trình đáy từ 0,5 - 0,8 m trên 34 km sông Kim Sơn, 23 km sông Cửu An, 22 km sông Điện Biên và 27 km sông Chanh. Lộ trình triển khai hoàn thành trong giai đoạn 2011 - 2015 nhằm nâng hệ số dẫn nước kênh mương đạt η = 0,90.
  3. Hiện đại hóa và nâng cấp 415 trạm bơm tưới tiêu: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hưng Yên thay thế đồng loạt các tổ máy bơm 1.000 m3/h đã quá hạn khấu hao bằng dòng máy bơm chìm cánh hỗn lưu hiệu suất cao, tiết kiệm 20% điện năng. Xây dựng bổ sung các trạm bơm dã chiến vùng bãi bồi ngoài đê (574 ha) và hoàn thiện trạm bơm La Tiến (công suất 5 x 8.400 m3/h) trước năm 2015.
  4. Khai thác hiệu quả động lực nhật triều và nguồn nước bổ sung: Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi tỉnh vận hành đóng mở linh hoạt hệ thống cống Cầu Xe, An Thổ và cống Võng Phan tận dụng biên độ triều lên 0,5 m để đẩy nước ngọt vào hệ thống nội đồng, đảm bảo nguồn tưới cho 2.800 ha của hai huyện Phù Cừ và Tiên Lữ với độ mặn nguồn nước kiểm soát nghiêm ngặt dưới 1‰.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cán bộ quản lý và kỹ sư vận hành thủy nông: Các kỹ sư tại Công ty TNHH Một thành viên Khai thác Công trình Thủy lợi Bắc Hưng Hải và Công ty KTCTTL tỉnh Hưng Yên có thể áp dụng trực tiếp quy trình tính toán phân phối lưu lượng cho 4 tiểu khu để lập lịch đóng mở cống và vận hành 415 trạm bơm một cách tối ưu.
  2. Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cục Quản lý Đê điều và Phòng chống Thiên tai, Cục Thủy lợi, Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng chống Thiên tai và UBND tỉnh Hưng Yên có cơ sở dữ liệu xác thực để xây dựng quy chế phối hợp điều tiết nước liên ngành giữa nông nghiệp và năng lượng.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước, Thủy văn học, Kỹ thuật công trình thủy có thể sử dụng chuỗi số liệu thủy văn 55 năm và khung mô hình toán thủy lực của đề tài làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu chuyên sâu về biến đổi khí hậu lưu vực sông Hồng.
  4. Các đơn vị tư vấn và thiết kế công trình thủy lợi: Các viện nghiên cứu, doanh nghiệp tư vấn xây dựng thủy lợi khai thác các thông số về hệ số tưới q = 1,15 l/s/ha, cao trình bồi lắng lòng dẫn và trữ lượng nước ngầm 19.000 m3/ngày đêm để lập báo cáo kinh tế kỹ thuật nâng cấp trạm bơm và kênh dẫn.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống Thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn Hưng Yên giữ vai trò như thế nào đối với sản xuất nông nghiệp?
Toàn hệ thống Bắc Hưng Hải phục vụ 150.200 ha canh tác, trong đó toàn bộ 56.413 ha đất nông nghiệp của 10 huyện, thành phố tỉnh Hưng Yên nằm trọn trong lưu vực này. Hệ thống chịu trách nhiệm cung cấp nước tưới ổn định, bảo đảm an ninh lương thực với sản lượng thóc đạt 506.847 tấn/năm và tạo điều kiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng hàng hóa giá trị cao.

Yếu tố nào là nguyên nhân chính gây ra tình trạng thiếu nước tưới mùa kiệt tại Hưng Yên?
Nguyên nhân chủ yếu do mực nước sông Hồng mùa kiệt xuống thấp kỷ lục (+1,42 m năm 2006 tại Xuân Quan) dưới tác động của biến đổi khí hậu và việc tích nước hồ thủy điện thượng nguồn. Tình trạng này kết hợp với hiện tượng xả đáy ngắt quãng ban đêm (20 - 50 m3/s) và lòng dẫn kênh mương dài 3.515 km bị bồi lắng làm giảm nghiêm trọng lưu lượng hút của máy bơm.

Giải pháp điều phối hồ chứa thượng nguồn giải quyết xung đột lợi ích giữa phát điện và cấp nước ra sao?
Đề tài đề xuất cơ chế xả nước định kỳ theo các đợt đổ ải vụ Đông Xuân với lưu lượng tối thiểu 600 - 800 m3/s thay vì xả dàn trải. Giải pháp này vừa đảm bảo tích trữ dung tích phát điện thương mại cho các nhà máy thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang vào giờ cao điểm, vừa nâng mực nước sông Hồng tại Hà Nội lên trên +2,2 m phục vụ các trạm bơm nông nghiệp lấy nước hiệu quả.

Nguồn nước mùa kiệt của hệ thống thủy lợi Hưng Yên có bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn không?
Kết quả quan trắc cho thấy trong mùa kiệt, độ mặn trên toàn bộ mạng lưới sông nội đồng tỉnh Hưng Yên duy trì ở mức dưới 1‰, nằm trong giới hạn an toàn tuyệt đối cho cây trồng. Nhờ đó, hệ thống hoàn toàn có thể tận dụng chế độ nhật triều với biên độ 0,5 m tại trạm Hưng Yên để lấy nước ngọt tự chảy qua cống Võng Phan phục vụ tưới 2.800 ha đất canh tác.

Luận văn phân chia các tiểu khu thủy lợi của tỉnh Hưng Yên theo cấu trúc nào?
Hệ thống thủy lợi Hưng Yên được phân chia thành 4 tiểu khu độc lập gồm: Bắc Kim Sơn (20.988 ha), Ân Thi - Đường 39 (17.520 ha), Tây Nam Cửu An (31.753 ha) và Châu Giang (22.048 ha). Mỗi tiểu khu được kết nối với các trục sông chính riêng biệt như Kim Sơn, Điện Biên, Cửu An và Tây Kẻ Sặt để điều phối nguồn nước chuyên biệt theo từng địa hình cao thấp khác nhau.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn 55 năm (1955 - 2010) và hiện trạng kỹ thuật của 415 trạm bơm tưới tiêu với tổng lưu lượng 1.500 m3/h trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
  • Làm rõ nguyên nhân khoa học gây sụt giảm mực nước sông Hồng mùa kiệt (xuống mức +1,42 m tại cống Xuân Quan) và lượng hóa quy mô thiệt hại do hạn hán năm 2005 lên tới 3.996 ha.
  • Đề xuất khung điều hành tích hợp liên hồ chứa thượng lưu (Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang) duy trì lưu lượng xả tối thiểu 600 - 800 m3/s, giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa thủy điện và nông nghiệp hạ du.
  • Thiết lập hệ thống giải pháp công trình đồng bộ gồm nạo vét lòng dẫn 4 trục sông chính, kiên cố hóa 3.515 km kênh mương và thay thế các tổ máy bơm cũ kỹ vận hành trên 30 năm.
  • Tạo tiền đề khoa học vững chắc để nâng cao năng lực cấp nước tưới cho 56.413 ha đất nông nghiệp tỉnh Hưng Yên, đảm bảo mức an toàn tưới đạt tần suất thiết kế P = 85%.

Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2011 - 2015 tập trung vào việc số hóa mạng lưới quan trắc thủy văn tự động và triển khai dự án nạo vét lòng sông bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển. Các nhà quản lý, kỹ sư và chuyên gia quan tâm có thể khai thác chi tiết báo cáo toàn văn luận văn tại Thư viện Trường Đại học Thủy Lợi để ứng dụng vào công tác quy hoạch nguồn nước lưu vực sông Hồng.