Tổng quan nghiên cứu

Ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam sở hữu truyền thống lâu đời với hệ thống khoảng 1.450 làng nghề trên toàn quốc, trong đó có hơn 300 làng nghề truyền thống tiêu biểu, thu hút xấp xỉ 4 triệu lao động thường xuyên và nông nhàn. Điểm nổi bật của nhóm hàng này là tỷ lệ giá trị ngoại tệ thực thu đạt mức rất cao, từ 95% đến 97%, do nguyên phụ liệu nhập khẩu chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn khoảng 3% đến 5% tổng giá trị sản phẩm. Cứ 1 triệu USD kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ có khả năng tạo việc làm ổn định cho khoảng 3.000 lao động nông thôn, góp phần trực tiếp vào công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Thị trường Liên minh Châu Âu (EU) là đối tác thương mại trọng điểm, chiếm tới 42% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong năm 2001. Mặc dù tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành duy trì quy mô 351 triệu USD năm 2000 và 352 triệu USD năm 2001, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam đang phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và Philippines về chất lượng, giá thành, năng lực cung ứng đơn hàng lớn và tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội.

Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện thực trạng năng lực cạnh tranh của 6 nhóm mặt hàng thủ công mỹ nghệ chủ lực của Việt Nam (gỗ dân dụng, gốm sứ, mây tre lá đan, thêu ren thổ cẩm, gỗ mỹ nghệ, thảm) trên thị trường EU trong giai đoạn 1996 - 2001, quý I/2002 và định hướng đến năm 2005. Mục tiêu trọng tâm là hệ thống hóa các nhân tố cấu thành sức cạnh tranh, phân tích các rào cản nội tại và xây dựng các giải pháp chiến lược đồng bộ giúp gia tăng thị phần, đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu bền vững sang EU.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cạnh tranh thị trường, lý thuyết phân bổ tối ưu nguồn lực và quy luật cung - cầu trong kinh tế quốc tế. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được định nghĩa là năng lực tự duy trì và mở rộng vị thế thị phần một cách bền vững, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận bình quân ngành từ 10% đến 20% trong điều kiện thị trường mở.

Mô hình nghiên cứu xác lập hệ thống 8 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ theo mức độ ưu tiên giảm dần:

  1. Tổ chức hoạt động tiêu thụ và phát triển mạng lưới phân phối.
  2. Đa dạng hóa chủng loại sản phẩm.
  3. Cải tiến kiểu dáng, mẫu mã mỹ thuật.
  4. Quản trị chất lượng đồng đều và đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật.
  5. Chiến lược định giá cạnh tranh.
  6. Hệ thống dịch vụ hỗ trợ giao thương, vận tải, thanh toán.
  7. Quy mô cung ứng và tiến độ giao hàng chuẩn xác.
  8. Tiêu chuẩn vệ sinh môi trường và điều kiện làm việc (điển hình như tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA8000).

Đồng thời, nghiên cứu tích hợp phân tích các yếu tố tác động gián tiếp từ môi trường vĩ mô gồm sự ổn định chính sách, môi trường tài chính - tín dụng, hệ thống logistics, áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp tiềm ẩn và sản phẩm thay thế.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu kinh tế học hiện đại như phân tích thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu, so sánh định lượng và định tính.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp có hệ thống từ Tổng cục Hải quan, Bộ Thương mại, Tổng cục Thống kê và báo cáo điều tra chuyên đề của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện tại 41 tỉnh thành trên cả nước. Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm 508 cụm xã và làng nghề tiêu biểu (với 126 cụm nghề mộc, 153 cụm chế biến nông sản, 45 cụm dệt may thêu ren...) cùng hơn 61.000 hộ tham gia sản xuất. Việc lựa chọn phương pháp phân tích so sánh chuỗi thời gian giai đoạn 1996 - 2001 và phân tích cấu trúc thị phần giúp lượng hóa chính xác năng lực cạnh tranh thực tế của từng dòng sản phẩm Việt Nam so với các đối thủ trong khu vực trên thị trường EU.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô xuất khẩu tăng trưởng nhưng cơ cấu thị phần tại EU còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 351 triệu USD năm 2000, 352 triệu USD năm 2001 và đạt 100 triệu USD trong 4 tháng đầu năm 2002. Khu vực EU chiếm tỷ trọng lớn nhất với 42% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2001 (vượt qua thị trường Nhật Bản chiếm 22%), song thị phần tại từng quốc gia thành viên như Đức, Pháp, Hà Lan, Anh vẫn còn rất nhỏ so với nguồn hàng cung ứng từ Trung Quốc và các nước ASEAN.

Thứ hai, nhóm hàng gỗ dân dụng và gốm sứ mỹ nghệ giữ vai trò trụ cột kim ngạch. Năm 2000, xuất khẩu đồ gỗ dân dụng đạt 113 triệu USD (tăng 25% so với năm 1999), gốm sứ mỹ nghệ đạt 105 triệu USD (tăng 24%), hàng mây tre lá đan đạt 38 triệu USD, hàng thêu ren thổ cẩm đạt 37 triệu USD, đồ gỗ mỹ nghệ đạt 34 triệu USD và thảm các loại đạt 12 triệu USD. Riêng gốm sứ mỹ nghệ chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ truyền thống (không tính gỗ dân dụng).

+--------------------------------------------------------------------+
| KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ (NĂM 2000 - TRIỆU USD) |
+--------------------------------------------------------------------+
| Gỗ dân dụng        | ███████████████████████████████ 113           |
| Gốm sứ mỹ nghệ     | ████████████████████████████ 105              |
| Mây tre cói lá đan | ██████████ 38                                 |
| Thêu ren thổ cẩm   | ██████████ 37                                 |
| Đồ gỗ mỹ nghệ      | █████████ 34                                  |
| Thảm các loại      | ███ 12                                        |
+--------------------------------------------------------------------+

Thứ ba, cấu trúc sản xuất phân tán và thiếu hụt nguồn lực vốn là điểm nghẽn lớn nhất. Quy mô sản xuất tại các làng nghề chủ yếu ở dạng kinh tế hộ gia đình, chiếm tới 97% tổng số cơ sở. Dữ liệu khảo sát chỉ ra chỉ có 2,43% cơ sở tiếp cận được Quỹ quốc gia giải quyết việc làm và 13,19% vay được vốn từ Quỹ tín dụng nông thôn. Đa phần các cơ sở phải vay vốn tư nhân với lãi suất cao gấp 2 đến 3 lần mức thông thường, hạn chế năng lực đầu tư đổi mới công nghệ và mở rộng nhà xưởng.

+--------------------------------------------------------------------+
| CƠ CẤU VỐN & QUY MÔ CƠ SỞ SẢN XUẤT THỦ CÔNG MỸ NGHỆ                |
+--------------------------------------------------------------------+
| Quy mô hộ gia đình       | [97.00%]                                |
| Tiếp cận Quỹ tín dụng NT | [13.19%]                                |
| Vay Quỹ việc làm QG      | [2.43%]                                 |
+--------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Khi biểu diễn dữ liệu xuất khẩu qua biểu đồ cơ cấu và phân tích ma trận cạnh tranh, nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm ưu thế của hàng Việt Nam tại EU bắt nguồn từ việc sản xuất còn mang tính tự phát, thiếu kênh phân phối trực tiếp và phụ thuộc nặng nề vào các khâu trung gian thương mại. Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu xuất khẩu theo hình thức gia công hoặc bán buôn tại xưởng, chưa xây dựng được thương hiệu riêng và thiếu năng lực phản ứng nhanh trước sự thay đổi về thị hiếu thiết kế của người tiêu dùng Châu Âu.

So với Trung Quốc - quốc gia xuất khẩu hàng tỷ USD đồ gốm sứ và mây tre nhờ quy mô công nghiệp hóa mạnh mẽ - chi phí sản xuất của Việt Nam bị đội lên do công nghệ sơ chế nguyên liệu còn thô sơ và hệ thống logistics nội địa kém phát triển. Tuy nhiên, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vẫn sở hữu lợi thế cốt lõi về độ tinh xảo thủ công và chiều sâu văn hóa bản địa. Thu nhập bình quân của lao động làng nghề đạt khoảng 300.000 đồng/tháng, cao hơn từ 2 đến 4 lần so với lao động thuần nông, chứng minh rằng nâng cao năng lực cạnh tranh để mở rộng thị trường EU chính là giải pháp kinh tế - xã hội then chốt cho khu vực nông thôn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường EU giai đoạn đến năm 2005, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tín dụng và thuế khóa của Nhà nước: Ngân hàng Nhà nước và các quỹ hỗ trợ phát triển cần nới lỏng điều kiện thế chấp, gia tăng tỷ lệ cơ sở làng nghề được tiếp cận vốn ưu đãi vượt mức 13,19% hiện nay. Bộ Tài chính cần bãi bỏ quy định khống chế trần hạch toán tiền công 18% - 20% trong giá thành sản phẩm mỹ nghệ xuất khẩu, cho phép tính đúng chi phí thực tế nhằm tạo điều kiện tái đầu tư cho doanh nghiệp.
  2. Quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung và xử lý môi trường làng nghề: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh xây dựng vùng chuyên canh mây, tre, nứa, cói sạch bệnh tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; hỗ trợ 100% công nghệ xử lý nước thải và chất thải rắn cho các cụm công nghiệp làng nghề nhằm thỏa mãn tiêu chuẩn SA8000 của EU trước năm 2005.
  3. Nâng cấp năng lực thiết kế mẫu mã và xây dựng thương hiệu quốc gia: Thành lập Trung tâm xúc tiến thiết kế mẫu mã sản phẩm thủ công mỹ nghệ, kết hợp mời chuyên gia mỹ thuật châu Âu tập huấn cho thợ giỏi và nghệ nhân. Mục tiêu đến năm 2005 là gia tăng tỷ trọng hàng xuất khẩu mang thương hiệu Việt Nam lên 30%, hướng tới mốc kim ngạch 300 - 350 triệu USD cho đồ gỗ dân dụng và 200 - 250 triệu USD cho gốm sứ.
  4. Tổ chức mạng lưới phân phối trực tiếp và liên kết chuỗi giá trị: Doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực cần liên kết thành lập các văn phòng đại diện hoặc trung tâm trưng bày hàng hóa tại các đầu mối thương mại EU (Đức, Pháp, Bỉ, Hà Lan), giảm thiểu tối đa 3 - 4 tầng nấc trung gian, rút ngắn thời gian giao hàng còn dưới 45 ngày đối với các đơn hàng đường biển.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện và căn cứ thực tiễn để Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn tầm nhìn dài hạn.
  2. Chủ doanh nghiệp và giám đốc xuất nhập khẩu ngành thủ công mỹ nghệ: Tham khảo khung phân tích 8 yếu tố cạnh tranh trực tiếp, từ đó tái cấu trúc chiến lược định giá, thiết kế mẫu mã và lựa chọn kênh tiếp cận phù hợp cho từng thị trường thành viên EU.
  3. Ban quản lý hợp tác xã, hiệp hội làng nghề và các nghệ nhân: Nắm bắt các rào cản kỹ thuật quốc tế (tiêu chuẩn môi trường, SA8000), phương thức liên kết chuỗi hộ sản xuất nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm và nâng cao hiệu quả đàm phán hợp đồng.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về lý luận cạnh tranh quốc tế, phương pháp khảo sát thực địa tại các làng nghề truyền thống và cơ sở dữ liệu thương mại Việt Nam - EU.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao hàng thủ công mỹ nghệ lại có tỷ lệ ngoại tệ thực thu cao vượt trội so với dệt may? Tỷ lệ ngoại tệ thực thu của hàng thủ công mỹ nghệ đạt tới 95% - 97% giá trị xuất khẩu, trong khi ngành dệt may thời kỳ này chỉ đạt khoảng 25%. Lý do là ngành thủ công mỹ nghệ tận dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên sẵn có trong nước (đất sét, tre, nứa, song, gỗ) và hàm lượng lao động thủ công lớn, chi phí nhập khẩu phụ liệu chỉ chiếm từ 3% đến 5%.

Những yếu tố nào quyết định trực tiếp nhất đến sức cạnh tranh tại thị trường EU? Theo kết quả nghiên cứu, 3 yếu tố quan trọng hàng đầu chi phối sức cạnh tranh tại EU lần lượt là: tổ chức hoạt động phân phối tiêu thụ, sự đa dạng của chủng loại sản phẩm và sự đổi mới sáng tạo trong mẫu mã thiết kế, sau đó mới đến yếu tố chất lượng, giá cả và các tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội.

Các làng nghề truyền thống Việt Nam đang gặp trở ngại lớn nhất về nguồn vốn như thế nào? Có tới 97% cơ sở hoạt động theo quy mô hộ gia đình phân tán, chỉ có 2,43% cơ sở tiếp cận được Quỹ quốc gia giải quyết việc làm và 13,19% vay được Quỹ tín dụng nông thôn do thiếu tài sản thế chấp. Hầu hết phải huy động vốn vay tư nhân với lãi suất cao gấp 2 - 3 lần lãi suất ngân hàng.

Hiệp định khung Việt Nam - EU năm 1995 có ý nghĩa như thế nào đối với ngành thủ công mỹ nghệ? Hiệp định khung 1995 đã tạo khuôn khổ pháp lý chính thức cho việc thúc đẩy quan hệ thương mại toàn diện, mở đường cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường EU với mức thuế suất ưu đãi, giúp kim ngạch xuất khẩu sang khu vực này tăng nhanh và chiếm tới 42% tỷ trọng toàn ngành vào năm 2001.

Mục tiêu tăng trưởng kim ngạch của các mặt hàng chủ lực đến năm 2005 được dự báo ra sao? Đến năm 2005, dự báo kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ dân dụng hướng tới mốc 300 - 350 triệu USD; gốm sứ mỹ nghệ đạt khoảng 200 - 250 triệu USD; hàng mây tre cói lá đan đạt 95 - 110 triệu USD; đồ gỗ mỹ nghệ đạt 80 - 90 triệu USD và hàng thêu ren thổ cẩm đạt 65 - 75 triệu USD.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa sâu sắc khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh quốc tế và xác lập mô hình đánh giá 8 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhóm hàng thủ công mỹ nghệ.
  • Đánh giá toàn diện bức tranh xuất khẩu với kim ngạch đạt 352 triệu USD năm 2001, trong đó thị trường EU giữ vị thế dẫn đầu với 42% thị phần.
  • Phân tích rõ nét các hạn chế cốt lõi của hệ thống 1.450 làng nghề: quy mô hộ gia đình chiếm 97%, điểm nghẽn thiếu vốn trầm trọng và mẫu mã chưa bắt kịp thị hiếu quốc tế.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp 3 chủ thể: chính sách vĩ mô của Nhà nước, chiến lược thị trường của doanh nghiệp và năng lực đổi mới của làng nghề truyền thống.
  • Khẳng định lộ trình đến năm 2005 ngành thủ công mỹ nghệ hoàn toàn có thể bứt phá đạt quy mô kim ngạch trên 700 triệu USD nếu giải quyết triệt để nút thắt thiết kế và phân phối.

Để nắm bắt chi tiết phương pháp luận, chuỗi số liệu thống kê thực địa tại 41 tỉnh thành và các bài học kinh nghiệm quốc tế sâu sắc, quý độc giả và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ kinh tế này ngay hôm nay.