mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết luận, kết cấu của luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH điện tử Noble Việt Nam Chƣơng 3: Hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH điện tử Noble Việt Nam 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. Bản chất, vai trò và nhiệm vụ kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp sản xuất 1. Bản chất của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp sản xuất Kế toán quản trị (KTQT) hay kế toán quản lý là lĩnh vực chuyên môn của kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng, đặc biệt thực trạng tài chính của doanh nghiệp; qua đó phục vụ công tác quản trị nội bộ và ra quyết định quản trị. Thông tin của kế toán quản trị đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của doanh nghiệp, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá doanh nghiệp đó.
KTTN là một trong những nội dung cơ bản của KTQT, dựa trên cơ sở lý thuyết tổ chức và nhu cầu về quản lý, nhằm đo lƣờng, kiểm soát và đánh giá kết quả hoạt động của các bộ phận. Do vậy, quá trình hình thành và phát triển của KTTN gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của KTQT Trong quá trình quản lý, các cá nhân, các bộ phận đƣợc giao quyền ra quyết định và trách nhiệm để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nào đó. Việc phân quyền trong tổ chức tạo nên cơ cấu phức tạp và đòi hỏi cấp trên phải nắm đƣợc kết quả thực hiện của cấp dƣới. Vì thế, kế toán trách nhiệm đƣợc xây dựng để theo dõi kết quả, hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp.
Có quan điểm KTTN là một hệ thống tạo ra những thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan về những hoạt động thực tế và đƣợc lập kế hoạch của những trung tâm trách nhiệm trong một công ty - những đơn vị trong tổ chức đƣợc đứng đầu bởi những nhà quản lý có trách nhiệm cho kết quả hoạt động của đơn vị họ quản lý. Những bộ phận chủ yếu bao gồm: Hệ thống dự toán ngân sách, các báo cáo kết quả hoạt động, các báo cáo về sự biến động và giá chuyển nhƣợng sản phẩm, dịch vụ nội bộ giữa các bộ phận trong công ty. 8 Hiện có nhiều quan điểm khác về KTTN, tuy nhiên chúng ta thấy rằng sự khác nhau của các quan điểm trên đƣợc thể hiện ở cách thức nhìn nhận của mỗi tác giả về đặc điểm, ý nghĩa và cơ chế tổ chức KTTN ở DN, sự khác nhau đó không mang tính đối nghịch mà chúng cùng bổ sung cho nhau nhằm giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về KTTN. Từ đó có thể rút ra những vấn đề thuộc bản chất của KTTN nhƣ sau: Thứ nhất, KTTN là một nội dung cơ bản của KTQT và là một quá trình tập hợp và báo cáo các thông tin đƣợc dùng để kiểm tra các quá trình hoạt động và đánh giá thực hiện nhiệm vụ ở từng bộ phận trong một tổ chức.
Hệ thống KTTN là một hệ thống thông tin chính thức. Các hệ thống này sử dụng cả các thông tin tài chính và cả thông tin phi tài chính. Thứ hai, Kế toán trách nhiệm là một công cụ đắc lực và quan trọng nhất trong hệ thống kiểm soát quản lý. KTTN là công cụ đắc lực của hệ thống quản lý để thu thập và báo cáo các thông tin dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm, phân tích và tìm ra các sai lệch giữa thực tế và dự toán trên cơ sở đó nhà quản lý tại các bộ phận có thể kiểm soát hoạt động và chi phí phát sinh tại bộ phận của mình.
KTTN chỉ có thể đƣợc thực hiện trong đơn vị có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải có sự phân quyền rõ ràng. Hệ thống KTTN ở các tổ chức khác nhau là rất đa dạng, bao gồm các thủ tục đƣợc thể chế hóa cao với cách hoạt động theo lịch trình đều đặn, có những nhà quản lý bộ phận đƣợc giao quyền hạn quyết định, song cũng có những nhà quản lý bộ phận hầu nhƣ không có quyền hạn về sử dụng các nguồn lực thuộc bộ phận họ quản lý. Thứ ba, Tính hai mặt của kế toán trách nhiệm và ảnh hƣởng đến thái độ của nhà quản lý. KTTN bao gồm hai mặt: thông tin và trách nhiệm.
Do hệ thống kế toán trách nhiệm có hai mặt thông tin và trách nhiệm nên nó ảnh hƣởng rất lớn đến hành vi và thái độ của nhà quản lý. Ảnh hƣởng có thể tích 9 cực hoặc tiêu cực tuỳ thuộc vào cách sử dụng hệ thống kế toán trách nhiệm. Một hệ thống KTTN hữu ích phải thỏa mãn lý thuyết phù hợp, nghĩa là có một cấu trúc tổ chức thích hợp nhất với môi trƣờng tổ chức hoạt động, với chiến lƣợc tổng hợp của tổ chức, và với các giá trị và sự khích lệ của quản trị cấp cao. Vai trò và nhiệm vụ của kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp sản xuất Các nhà kế toán quản trị phải tham gia vào việc xây dựng và thực hiện chiến lƣợc, sau đó biến các dự định chiến lƣợc và năng lực thành các biện pháp quản trị và vận hành.
Kế toán quản trị đã chuyển chức năng từ ngƣời lƣu giữ sổ sách, số liệu trong quá khứ để trở thành nhà thiết kế của những hệ thống thông tin quản trị trọng yếu của tổ chức. KTTN thực hiện việc phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lƣờng biểu hiện của chúng. Nó là công cụ để đo lƣờng kết quả hoạt động của từng khu vực bộ phận trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở các cấp khác nhau. Do vậy vai trò của KTTN thể hiện qua những nội dung sau: KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị bộ phận vào lợi ích toàn tổ chức.
Cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lƣợng về kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận. ðồng thời, KTTN đƣợc sử dụng để đo lƣờng kết quả hoạt động của các nhà quản lý do đó nó ảnh hƣởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này. Ngoài ra, KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo hƣớng phù hợp với mục tiêu chung của toàn tổ chức. 10 Nhƣ vậy, KTTN có vai trò quan trọng trong công tác kiểm soát và đánh giá hiệu quả của từng bộ phận trong tổ chức.
KTTN với mục đích là đo lƣờng và đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận trong đơn vị, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau. Vai trò của KTTN đƣợc thể hiện ở những khía cạnh sau đây: Thứ nhất, KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của tổ chức. Thứ hai, KTTN cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lƣợng về kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận. KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó các nhà quản lý có thể hệ thống hóa các công việc của các trung tâm trách nhiệm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá.
Thứ ba, KTTN đƣợc sử dụng để đo lƣờng kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do đó, nó ảnh hƣởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này. Thứ tƣ, KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phƣơng cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức. Mục tiêu chiến lƣợc của các doanh nghiệp đƣợc gắn với các trung tâm trách nhiệm. Vì vậy các nhà quản lý của trung tâm trách nhiệm sẽ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu của doanh nghiệp.
Thứ năm, KTTN hỗ trợ kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. KTTN giúp nhà quản trị các cấp xác định trách nhiệm của mình và sẽ phải chịu trách nhiệm đó với nhà quản trị cấp cao hơn trong quá trình hoạt động kinh doanh để đạt đƣợc mục tiêu. KTTN cũng giúp nhà quản trị các cấp đánh giá đƣợc hoạt động kinh doanh của bộ phận mình. Từ đó nhà quản trị cấp dƣới chủ động ra quyết định kinh doanh, các nhà quản trị cấp cao tập trung vào các quyết định chiến lƣợc kinh doanh.
Sự phân cấp quản lý và mối quan hệ với kế toán trách nhiệm 1. Sự phân cấp quản lý và các mô hình phân cấp quản lý KTTN là công việc không thể tách rời các trung tâm trách nhiệm. Các trung tâm trách nhiệm hình thành thông qua việc phân cấp quản lý. Phân cấp quản lý là việc nhà quản lý cấp trên trao cho các nhà quản lý cấp thấp hơn một số quyền ra quyết định, nhà quản trị cấp dƣới chỉ ra quyết định trong phạm vi trách nhiệm của mình.
Tuỳ theo từng doanh nghiệp Nhà quản trị cần phải xác định đúng đắn mức độ phức tạp của tổ chức để từ đó thực hiện phân quyền cho phù hợp. Nhà quản trị phải xây dựng một hệ thống các mục tiêu sao cho mỗi bộ phận đều đảm bảo thực hiện đƣợc, phải có sự tƣơng quan giữa quyền hạn và trách nhiệm Bất kỳ một doanh nghiệp nào, ngay sau khi thành lập, đều phải xác định cơ cấu tổ chức, phân chia trách nhiệm và quyền hạn cho các cá nhân và bộ phận trong tổ chức. Mục tiêu của chức năng tổ chức là tạo nên một môi trƣờng nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy đƣợc năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức Phân quyền là hiện tƣợng tất yếu khi tổ chức đạt tới quy mô và trình độ phát triển nhất định làm cho một ngƣời hay một cấp quản trị không thể đảm đƣơng đƣợc mọi công việc quản trị. Những nguy cơ tiềm ẩn của phân quyền là sự thiếu nhất quán trong chính sách, tình trạng mất khả năng kiểm soát của cấp trên đối với cấp dƣới, tình trạng cát cứ của các nhà quản trị bộ phận Mức độ phân quyền trong tổ chức: Việc xác định cần tập trung hay phân tán quyền lực chịu ảnh hƣởng của những nhân tố chủ yếu sau: + Chi phí của các quyết định.