Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Cây ngô (Zea mays L.) giữ vị trí là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa nước và là cây màu chủ lực trong cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam. Giai đoạn 2005 - 2014, diện tích ngô cả nước tăng từ 1.052,6 nghìn ha lên 1.177,5 nghìn ha với sản lượng đạt 5,2 triệu tấn (năm 2015 đạt 5,28 triệu tấn). Dù vậy, nguồn cung trong nước vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và chế biến thức ăn chăn nuôi, buộc Việt Nam phải nhập khẩu tới 7,6 triệu tấn ngô vào năm 2015 với trị giá 1,6 tỷ USD.
Tại tỉnh Thanh Hóa – một trong bốn địa phương có diện tích ngô lớn nhất cả nước, diện tích canh tác ngô lại suy giảm trung bình 0,77 nghìn ha/năm trong giai đoạn 2005 - 2015 (năm 2015 còn 56,8 nghìn ha, năng suất 43,2 tạ/ha, thấp hơn mức bình quân 44,8 tạ/ha của cả nước). Hơn 50% diện tích ngô của tỉnh phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời; chi phí vật tư và nhân công lao động tăng cao khiến hiệu quả kinh tế sụt giảm. Trong thực tế sản xuất, tập quán thâm canh của nông dân địa phương thường lạm dụng phân đạm (trên 180 kg N/ha trong tổng số hơn 260 kg NPK/ha) nhưng bón rất ít phân lân, kali và phân chuồng. Việc chia phân bón làm 2 - 3 lần bón vãi trên mặt đất dẫn đến thất thoát dinh dưỡng lớn qua rửa trôi, bay hơi (lên đến 67%), làm giảm hiệu suất sử dụng đạm, gây chua hóa đất và tăng chi phí sản xuất.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: Chưa có nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về khả năng cung cấp dinh dưỡng tự nhiên của đất phù sa sông Mã cho cây ngô; thiếu các dẫn liệu định lượng về quy luật di động của đạm viên nén trong đất; chưa xác định được liều lượng, vị trí (khoảng cách, độ sâu) bón đạm viên nén và kỹ thuật che phủ đất tối ưu nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng đạm cho các giống ngô lai thâm canh tại Thanh Hóa.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Xác định khả năng cung cấp các chất dinh dưỡng N, P, K của đất phù sa sông Mã cho cây ngô.
- Đánh giá hiệu suất sử dụng đạm và xác định liều lượng phân đạm bón dạng viên nén phù hợp cho giống ngô thí nghiệm.
- Xác định các giải pháp kỹ thuật canh tác thích hợp (thời điểm bón, phương pháp bón, độ sâu, khoảng cách bón và biện pháp che phủ đất) nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng đạm.
- Xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh ngô sử dụng đạm viên nén kết hợp che phủ đất, đánh giá hiệu quả nông học và hiệu quả kinh tế làm cơ sở hoàn thiện quy trình canh tác ngô năng suất cao tại Thanh Hóa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giống ngô lai C919 (nguồn gốc từ Tập đoàn Monsanto, được công nhận giống chính thức năm 2002); phân đạm dạng viên nén (khối lượng 1,3 g/viên, hàm lượng N đạt 39,2%, do Công ty Cổ phần Công nghệ Xanh Nông nghiệp I sản xuất); các loại phân bón thương phẩm gồm đạm urê Ninh Bình (46,0% N), supe lân Lâm Thao (16,0% P2O5), kali clorua (60,0% K2O) và phân chuồng tại địa phương.
- Phạm vi không gian: Các điểm điều tra nông hộ và thí nghiệm đồng ruộng được thực hiện tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa (tập trung tại 3 xã: Vĩnh Hùng, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên) trên loại đất phù sa sông Mã. Thí nghiệm nghiên cứu sự di động của đạm viên nén trong đất được thực hiện tại khu thí nghiệm Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Các thí nghiệm đồng ruộng được bố trí từ vụ đông năm 2010 đến vụ xuân năm 2013; mô hình trình diễn kiểm chứng thực hiện trong vụ đông năm 2013. Các số liệu thứ cấp được thu thập và kế thừa trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước được tác giả tổng thuật
-
Vai trò sinh lý của đạm và nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô: Các tác giả Chaudhry et al. (1989), Huang (1994), Uhart & Andrade (1995), Barbieri et al. (2000), Nguyễn Như Hà (2010) khẳng định đạm là thành phần cấu tạo axit amin, axit nucleic, protein và diệp lục, quyết định trực tiếp đến diện tích lá xanh, khả năng tích lũy chất khô và năng suất hạt ngô. Debreczeni (2000), Setiyono et al. (2005) chỉ ra rằng để đạt năng suất 12 tấn/ha cây ngô lấy đi khoảng 232 kg N/ha từ đất; Hou et al. (2012) tại Trung Quốc xác định nhu cầu đạm trung bình để tạo 1 tấn ngô hạt là 17,4 kg N. Tại Việt Nam, Nguyễn Thế Hùng (1997, 2002), Nguyễn Văn Bộ (2007) ghi nhận để tạo 1 tấn hạt ở đồng bằng sông Hồng cần 33,9 kg N, 14,5 kg P2O5 và 17,2 kg K2O; ngưỡng bón đạm kinh tế trên đất bạc màu là 150 kg N/ha trên nền P-K cân đối. Đinh Văn Phóng và cs. (2013, 2015) xác định mức bón 176 kg N/ha trên nền 10 tấn phân chuồng + 117 kg P2O5 + 130 kg K2O là tối ưu cho ngô lai trung ngày.
-
Cơ chế thất thoát đạm và quản lý dinh dưỡng theo vùng chuyên biệt (SSNM): Raun & Gordon (1999) công bố hiệu suất sử dụng đạm toàn cầu ở cây ngũ cốc chỉ đạt 33%, thất thoát 67%. Buresh et al. (2008), Zhu (2003), Jiyun (2012) phân tích các đường thất thoát đạm gồm bay hơi NH3 (11,5%), phản nitrat hóa (34%), thấm sâu (2%) và xói mòn (5%). Peng et al. (1996), Dobermann et al. (2002), Khurana et al. (2008), Nguyễn Mỹ Hoa và cs. (2009) phát triển phương pháp SSNM dựa trên khả năng cung cấp dinh dưỡng tự nhiên của đất (INS, IPS, IKS) kết hợp thước đo màu lá SPAD giúp tiết kiệm 38,7 - 41,3% lượng phân bón mà vẫn tăng năng suất 2,5 - 3,5%.
-
Kỹ thuật bón sâu, chia lần bón và che phủ đất: Gao & Lu (2006), Huang & Pu (2006) chứng minh bón sâu giúp tăng năng suất 2,7 - 11,6% và tăng hiệu quả sử dụng đạm 7,2 - 12,8%. Wanga et al. (2016), Lana et al. (2014), Pasuquin et al. (2012) phân tích hiệu quả chia đợt bón phân tùy thuộc lượng mưa và loại đất. Về biện pháp giữ ẩm, Đoàn Văn Điếm & Trần Danh Thìn (2007), Hà Đình Tuấn và cs. (2011), Trịnh Duy Nam và cs. (2014), Zhu et al. (2015), Mo et al. (2016) chứng minh che phủ bằng tàn dư thực vật hoặc nilon giữ ẩm đất, giảm xói mòn từ 73 - 94%, tăng năng suất ngô từ 17,1% đến 62,6%.
-
Sử dụng chất ức chế và phân giải phóng chậm (SRF/CRF, phân viên nén): Owens et al. (2008), Chu & Le (2007), Nguyễn Thị Phương Thảo và cs. (2015) nghiên cứu các chất kìm hãm nitrat hóa (DCD, nitrapyrin) và ức chế enzym urease (nBTPT/Agrotain) giúp tăng hiệu suất sử dụng đạm thêm 20 - 32%. Các công trình của Nguyễn Tất Cảnh (2005, 2008), Đỗ Hữu Quyết (2009), Hà Thị Thanh Bình (2012), Võ Thanh Phong và cs. (2014) khẳng định phân viên nén nhả chậm NPK và urê ép viên giúp giảm mất đạm, tăng năng suất ngô từ 22% đến 113,2% và tiết kiệm 30% chi phí phân bón tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù phân viên nén đã được nghiên cứu trên một số đối tượng cây trồng, việc ứng dụng phân đạm dạng viên nén chuyên biệt cho cây ngô trên đất phù sa sông Mã tại Thanh Hóa chưa có quy trình chuẩn hóa. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách định lượng đồng bộ các thông số INS, IPS, IKS; mô hình hóa không gian và thời gian di chuyển của ion đạm từ viên phân nén trong đất; từ đó xác định chính xác liều lượng bón, thời điểm, tọa độ bón (sâu 10 cm, cách gốc 10 cm) kết hợp che phủ rơm rạ nhằm đạt hiệu quả kinh tế và môi trường tối ưu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm vận dụng
- Quản lý dinh dưỡng theo vùng chuyên biệt (SSNM): Dựa trên nguyên lý cân bằng dinh dưỡng, xác định nhu cầu phân bón thông qua sự chênh lệch giữa nhu cầu dinh dưỡng của cây để đạt năng suất mục tiêu và khả năng cung cấp dinh dưỡng nội tại của đất.
- Các chỉ số dinh dưỡng đất:
- Khả năng cung cấp đạm của đất (Indigenous Nitrogen Supply - INS).
- Khả năng cung cấp lân của đất (Indigenous Phosphorus Supply - IPS).
- Khả năng cung cấp kali của đất (Indigenous Potassium Supply - IKS).
- Các chỉ số hiệu suất sử dụng dinh dưỡng:
- Hiệu suất sử dụng phân bón (Agronomic Efficiency of Nutrient - NUE, PUE, KUE): Số kg ngô hạt tăng thêm trên 1 kg dinh dưỡng nguyên chất bón vào.
- Hệ số sử dụng dinh dưỡng (Nutrient Recovery Efficiency - NRE): Tỷ lệ phần trăm lượng dinh dưỡng cây hấp thu được so với lượng dinh dưỡng bón vào đất.
- Cơ chế giải phóng dinh dưỡng chậm (SRF/CRF): Nguyên lý hòa tan chậm kết hợp chất phụ gia hạn chế enzym urease và quá trình nitrat hóa, giúp duy trì nồng độ amon và nitrat ổn định trong vùng rễ, giảm rửa trôi và bay hơi.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp thu thập số liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa và UBND huyện Vĩnh Lộc từ năm 2010 đến 2014.
- Dữ liệu sơ cấp: Điều tra nhanh nông thôn (PRA) bằng phiếu điều tra chuẩn hóa trên 45 hộ nông dân trồng ngô tại 3 xã (Vĩnh Hùng, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên); chọn ngẫu nhiên 20 hộ trong số đó để lấy mẫu phân tích hàm lượng đạm trong thân, lá, hạt ở giai đoạn chín sinh lý.
- Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng:
- Bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD), nhắc lại 3 lần (riêng thí nghiệm nghiên cứu che phủ nhắc lại 4 lần). Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 14 m² (kích thước 4 hàng ngô × dài 5 m). Mật độ gieo trồng: khoảng cách hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 24 cm, gieo 1 cây/hốc (tương đương 5,9 vạn cây/ha).
- Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm và xử lý số liệu:
- Phân tích tính chất lý hóa học của đất: pH(H2O), pH(KCl), mùn tổng số (OM%), đạm tổng số, lân dễ tiêu, kali dễ tiêu, dung tích hấp thu (CEC).
- Phân tích hàm lượng N tổng số trong các bộ phận thân, lá và hạt ngô theo phương pháp Kjeldahl.
- Phân tích hồi quy tuyến tính xác định tương quan giữa lượng bón, lượng hấp thu và năng suất.
- Xử lý phương sai (ANOVA), kiểm định sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa (LSD ở mức α = 0,05) và hệ số biến động (CV%) bằng phần mềm chuyên ngành IRRISTAT 5.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các tư liệu khoa học về tình hình sản xuất ngô trong nước và quốc tế, đặc điểm đất phù sa sông Mã và cơ sở sinh lý dinh dưỡng khoáng của ngô:
- Sản xuất ngô thế giới năm 2014 đạt 183,3 triệu ha, năng suất 56,6 tạ/ha, sản lượng 1.037,5 triệu tấn; Mỹ dẫn đầu về năng suất với 107,3 tạ/ha. Tại Việt Nam năm 2015, diện tích đạt 1.179,3 nghìn ha, năng suất 44,8 tạ/ha, sản lượng 5.283,2 nghìn tấn.
- Đất phù sa sông Mã có tổng diện tích hơn 115 nghìn ha (chiếm 60% đất phù sa Thanh Hóa), hình thành từ đá mẹ khó phong hóa, dòng chảy xiết khiến hạt mịn trôi ra biển, tạo nên tầng đất có thành phần cơ giới nhẹ, thô, nghèo dinh dưỡng và đang có xu hướng bị chua hóa.
- Phân tích 7 nhóm giải pháp nâng cao hiệu suất sử dụng đạm hiện nay: bón đúng liều lượng gắn với quản lý nước; bón sâu và chia lần bón; bón NPK cân đối với trung vi lượng; che phủ đất giữ ẩm; quản lý dinh dưỡng theo vùng chuyên biệt (SSNM); dùng chất kìm hãm phân giải urê; và ứng dụng phân bón giải phóng chậm (SRF/CRF, phân viên nén).
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết vật liệu nghiên cứu (giống C919, phân viên nén 39,2% N), địa bàn nghiên cứu (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) và thiết kế 7 nội dung thí nghiệm:
- Đánh giá hiện trạng sản xuất và tập quán bón phân ngô tại huyện Vĩnh Lộc.
- Xác định khả năng cung cấp dinh dưỡng N, P, K tự nhiên của đất (thí nghiệm khuyết N, khuyết P, khuyết K).
- Đánh giá hiệu suất sử dụng đạm của giống ngô C919 ở các mức đạm khác nhau.
- Xác định liều lượng phân đạm dạng viên nén thích hợp (thang liều lượng: 0, 60, 90, 120, 150 kg N/ha).
- Nghiên cứu sự di động của đạm viên nén trong đất theo các mốc thời gian 5, 20, 40 và 60 ngày sau bón.
- Xác định cách bón, độ sâu và khoảng cách bón đạm viên nén tối ưu (so sánh các độ sâu 5, 10, 15 cm và khoảng cách 5, 10, 15 cm so với gốc cây).
- Đánh giá ảnh hưởng của vật liệu che phủ (rơm rạ, nilon) khi sử dụng đạm viên nén và xây dựng mô hình trình diễn kiểm chứng tại đồng ruộng.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
1. Hiện trạng sản xuất và tính chất đất ngô tại huyện Vĩnh Lộc
Kết quả điều tra 45 hộ nông dân cho thấy tập quán bón phân chưa cân đối: lượng đạm bón trung bình vượt mức 180 kg N/ha, trong khi lượng lân và kali bón rất thấp, lượng phân chuồng sử dụng hạn chế. Tổng lượng NPK bón cho 1 ha đạt trên 260 kg NPK nhưng hiệu quả kinh tế đạt thấp do chi phí phân bón và công lao động bón phân nhiều lần chiếm tỷ trọng cao.
2. Khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất và nhu cầu của giống C919
Kết quả thí nghiệm khuyết dinh dưỡng xác định khả năng cung ứng dinh dưỡng tự nhiên của đất phù sa sông Mã tại điểm nghiên cứu:
| Chỉ số dinh dưỡng đất |
Giá trị cung cấp từ đất |
Đơn vị tính |
| Khả năng cung cấp đạm (INS) |
44,4 - 88,3 |
kg N/ha |
| Khả năng cung cấp lân (IPS) |
21,8 - 54,8 |
kg P2O5/ha |
| Khả năng cung cấp kali (IKS) |
31,6 - 82,7 |
kg K2O/ha |
Trên nền 8 tấn phân chuồng kết hợp 180 kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha:
- Hiệu suất sử dụng phân bón của giống C919 đạt 12,8 - 12,9 kg hạt/kg NPK; 14,3 - 14,8 kg hạt/kg N; 13,7 - 14,1 kg hạt/kg P2O5; 13,0 - 13,7 kg hạt/kg K2O.
- Nhu cầu dinh dưỡng cây lấy đi từ đất để tạo ra 1 tấn ngô hạt thương phẩm là: 18,5 - 21,8 kg N; 9,2 - 10,5 kg P2O5; 12,6 - 15,9 kg K2O.
3. Liều lượng và thời điểm bón đạm dạng viên nén tối ưu
Thí nghiệm so sánh các mức bón đạm viên nén trên nền 8 tấn phân chuồng + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha với mật độ 5,9 vạn cây/ha xác định:
- Mức bón 120 kg N viên nén/ha cho hiệu quả sinh trưởng, khả năng tích lũy chất khô, chỉ số diện tích lá (LAI) và các yếu tố cấu thành năng suất đạt tối ưu.
- Về thời điểm: Bón toàn bộ lượng phân đạm viên nén 1 lần ngay sau khi gieo hạt mang lại hiệu quả cao nhất, giúp rễ cây hấp thu liên tục dinh dưỡng trong suốt chu kỳ sinh trưởng mà không cần bón thúc nhiều lần.
4. Quy luật di động của đạm viên nén và vị trí bón thích hợp
Kết quả theo dõi động thái N trong đất ở các thời điểm 5, 20, 40 và 60 ngày sau bón cho thấy ion amon giải phóng từ viên phân khuếch tán hình cầu quanh tâm viên nén. Thí nghiệm xác định tọa độ đặt viên phân chứng minh:
- Bón đạm viên nén ở khoảng cách 10 cm so với gốc ngô và độ sâu 10 cm so với bề mặt luống ngô là vị trí tối ưu cho sự phân bố của hệ rễ ngô C919.
- Tại vị trí này, năng suất ngô hạt đạt cao nhất: 78,6 tạ/ha ở vụ đông 2012 và 81,0 tạ/ha ở vụ xuân 2013.
5. Hiệu quả của biện pháp che phủ và mô hình sản xuất thử nghiệm
Kết hợp bón phân đạm viên nén với che phủ rơm rạ trên mặt luống có tác dụng giữ ẩm đất, hạn chế cỏ dại và giảm thiểu sâu bệnh hại.
| Chỉ tiêu theo dõi |
Mô hình thử nghiệm (Viên nén + Che phủ rơm rạ) |
Đối chứng (Canh tác thông thường của nông dân) |
Chênh lệch / Tỷ lệ tăng |
| Lượng phân bón áp dụng |
8 tấn PC + 120 kg N (viên nén) + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O |
Phân đơn rời bón vãi (>180 kg N, ít P-K) |
Tiết kiệm >60 kg N/ha, bón 1 lần |
| Năng suất hạt trung bình |
76,4 tạ/ha |
64,0 tạ/ha |
+12,4 tạ/ha (+19,4%) |
| Giá trị sản xuất |
45,8 triệu đồng/ha |
- |
- |
| Chi phí sản xuất |
Hợp lý (giảm công bón thúc, giảm phân) |
Cao do tốn công lao động |
- |
| Lợi nhuận thuần |
27,0 triệu đồng/ha |
18,7 triệu đồng/ha |
+8,3 triệu đồng/ha (+44,4%) |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng chính xác về khả năng cung cấp dinh dưỡng N, P, K tự nhiên của đất phù sa sông Mã cho cây ngô (INS: 44,4 - 88,3 kg N/ha; IPS: 21,8 - 54,8 kg P2O5/ha; IKS: 31,6 - 82,7 kg K2O/ha).
- Xác định định lượng nhu cầu lấy đi dinh dưỡng của giống ngô lai C919 để tạo 1 tấn hạt (18,5 - 21,8 kg N; 9,2 - 10,5 kg P2O5; 12,6 - 15,9 kg K2O) và hệ số hiệu suất sử dụng NPK tương ứng.
- Mô hình hóa thành công quy luật di chuyển và phân bố không gian của đạm viên nén trong môi trường đất phù sa sông Mã theo thời gian 5, 20, 40, 60 ngày sau bón, tạo cơ sở lý thuyết chuẩn xác cho kỹ thuật định vị phân bón nhả chậm trong nông học.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp kỹ thuật đề xuất
- Xác định công thức bón đạm viên nén tối ưu: 120 kg N dạng viên nén/ha trên nền 8 tấn phân chuồng + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha ở mật độ 5,9 vạn cây/ha đối với giống ngô C919 tại Thanh Hóa (tiết kiệm hơn 60 kg N nguyên chất/ha so với tập quán bón trên 180 kg N của nông dân).
- Hoàn thiện kỹ thuật bón: Bón 1 lần toàn bộ lượng đạm viên nén ngay sau khi gieo hạt, định vị tại độ sâu 10 cm cách gốc ngô 10 cm; kết hợp che phủ bề mặt bằng rơm rạ.
- Kết quả mô hình thực tế mang lại năng suất bình quân 76,4 tạ/ha, tăng năng suất 12,4 tạ/ha (19,4%), tạo lợi nhuận thuần 27,0 triệu đồng/ha (tăng 8,3 triệu đồng/ha, tương đương 44,4% so với quy trình bón phân truyền thống).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài:
- Các thí nghiệm và mô hình thực nghiệm mới chỉ tập trung trên một loại đất đại diện là đất phù sa sông Mã tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đối tượng cây trồng khảo nghiệm chuyên sâu giới hạn trên giống ngô lai C919; dạng phân viên nén sử dụng do một đơn vị sản xuất duy nhất cung cấp với hàm lượng 39,2% N.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo nghiệm kỹ thuật bón đạm viên nén trên các loại đất trồng ngô khác tại Thanh Hóa và khu vực Bắc Trung Bộ (như đất phù sa sông Chu, đất đồi gò, đất dốc).
- Thử nghiệm trên các bộ giống ngô lai mới, giống ngô biến đổi gen và các quy mô mật độ trồng khác nhau.
- Nghiên cứu cơ giới hóa công đoạn đặt phân viên nén ở độ sâu và khoảng cách 10 cm để giảm bớt công lao động thủ công trong sản xuất đại trà.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Thổ nhưỡng - Nông hóa: Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp xác định INS, IPS, IKS theo định hướng SSNM; phương pháp bố trí thí nghiệm theo dõi động thái di động của dưỡng chất trong đất và phương pháp đánh giá hiệu suất phân bón (NUE, NRE).
- Đối với cơ quan quản lý nông nghiệp và cán bộ khuyến nông tại Thanh Hóa: Cung cấp cơ sở khoa học và số liệu thực chứng để xây dựng, ban hành quy trình kỹ thuật thâm canh ngô năng suất cao, hướng dẫn nông dân giảm lượng phân đạm hóa học, tiết kiệm chi phí đầu vào và bảo vệ môi trường đất.
- Phần đáng tham khảo nhất: Dữ liệu chi tiết ở Chương 3 về quy luật di động của đạm viên nén theo thời gian và kết quả so sánh kinh tế - kỹ thuật giữa phương pháp bón đạm viên nén sâu kết hợp che phủ với tập quán bón phân truyền thống.
Câu hỏi thường gặp
1. Khả năng cung cấp dinh dưỡng tự nhiên của đất phù sa sông Mã cho ngô được xác định là bao nhiêu?
Theo kết quả thí nghiệm của luận án, đất phù sa sông Mã tại điểm nghiên cứu có khả năng cung cấp đạm tự nhiên (INS) từ 44,4 đến 88,3 kg N/ha; khả năng cung cấp lân (IPS) từ 21,8 đến 54,8 kg P2O5/ha; và khả năng cung cấp kali (IKS) từ 31,6 đến 82,7 kg K2O/ha.
2. Liều lượng và thời điểm bón đạm viên nén thích hợp nhất cho giống ngô C919 là gì?
Liều lượng thích hợp được xác định là 120 kg N dạng viên nén/ha (trên nền 8 tấn phân chuồng + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha với mật độ 5,9 vạn cây/ha). Thời điểm bón tối ưu là bón 1 lần duy nhất ngay sau khi gieo hạt ngô.
3. Tọa độ (khoảng cách và độ sâu) bón đạm viên nén chuẩn xác được luận án kết luận là bao nhiêu?
Căn cứ trên kết quả di động đạm và thí nghiệm đồng ruộng, tọa độ bón đạm viên nén thích hợp nhất là cách gốc ngô 10 cm và đặt ở độ sâu 10 cm so với bề mặt luống ngô. Tọa độ này giúp ngô đạt năng suất 78,6 tạ/ha ở vụ đông 2012 và 81,0 tạ/ha ở vụ xuân 2013.
4. Mô hình bón đạm viên nén kết hợp che phủ rơm rạ mang lại hiệu quả kinh tế và năng suất như thế nào?
Mô hình kỹ thuật kết hợp đạm viên nén (120 kg N/ha) và che phủ rơm rạ đạt năng suất ngô hạt bình quân 76,4 tạ/ha, tăng 12,4 tạ/ha (19,4%) so với đối chứng canh tác truyền thống. Giá trị sản xuất đạt 45,8 triệu đồng/ha, lợi nhuận thuần đạt 27,0 triệu đồng/ha, tăng 8,3 triệu đồng/ha (tương đương tăng 44,4% lợi nhuận).
5. Đặc tính kỹ thuật của loại phân đạm viên nén được sử dụng trong luận án là gì?
Phân đạm viên nén do Công ty Cổ phần Công nghệ Xanh Nông nghiệp I sản xuất, được ép theo hình quả bàng từ nguyên liệu chính là urê kết hợp phụ gia rắn và chất làm chậm quá trình thủy phân urê, quá trình nitrat hóa; khối lượng trung bình 1,3 g/viên với hàm lượng đạm nguyên chất đạt 39,2% N.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Đức Thiện đã giải quyết đồng bộ cơ sở khoa học và thực tiễn về chế độ dinh dưỡng đạm cho cây ngô lai C919 trên đất phù sa sông Mã tại Thanh Hóa. Nghiên cứu đã định lượng hóa các chỉ số cung cấp NPK tự nhiên của đất, xác định được liều lượng đạm viên nén tối ưu (120 kg N/ha) và chuẩn hóa vị trí bón phân (sâu 10 cm, cách gốc 10 cm) bón 1 lần ngay sau gieo kết hợp che phủ rơm rạ. Kết quả mô hình khẳng định giải pháp kỹ thuật này giúp tăng năng suất ngô 19,4% và tăng lợi nhuận kinh tế 44,4% so với tập quán bón phân rời truyền thống, đồng thời góp phần giảm thiểu thất thoát phân bón và bảo vệ môi trường canh tác.