Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tín dụng và những vấn đề cơ bản về nợ xấu. Phương pháp nghiên cứu. Thực trạng thu hồi nợ xấu tại Agribank chi nhánh Sở giao dịch.
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi nợ xấu tại Agribank chi nhánh Sở giao dịch. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nợ xấu Nợ xấu luôn là vấn đề nóng hổi đối với các nền kinh tế đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như tại Việt Nam.
Nợ xấu được coi là cục máu đông của nền kinh tế, gây ách tắch sự lưu thông tín dụng và hạn chế sự phát triển của sản xuất kinh doanh, gây khó khăn cho cả ngân hàng và doanh nghiệp trong quan hệ vay - mượn. Do đó, nâng cao hiệu quả thu hồi nợ xấu luôn là bài toán đặt ra trong mọi giai đoạn của nền kinh tế. Hiện nay, có nhiều nghiên cứu, các bài báo, luận văn về đề tài nâng cao hiệu quả thu hồi nợ xấu tại các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, ngày nay xử lý và thu hồi nợ xấu có nhiều điểm mới về cơ chế, chính sách cũng như giai đoạn của nền kinh tế đặt ra yêu cầu phải xử lý các khoản nợ xấu kéo dài từ những giai đoạn trước đó.
Vì vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả thu hồi nợ xấu đến giai đoạn này luôn đòi hỏi những nghiên cứu để có các giải pháp mới để nâng cao hiệu quả thu hồi nợ xấu. - Xử lý nợ xấu cũng như nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu là một bước trong quy trình quản lý khoản nợ xấu, trên cơ sở tìm hiểu tác giả thống kê một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài sau đây: (1) Tác giả Nguyễn Thị Thu Cúc, luận án Tiến sĩ kinh tế với đề tài "Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam" (2015 - Học viện Tài chính). Luận án của tác giả đã nghiên cứu sâu về cơ chế Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Tác giả chỉ ra 5 những bất cập về cơ chế quản lý nợ xấu.
Tuy nhiên, tác giả mới chỉ phân tích trên khía cạnh quản lý chưa chưa đi vào thu hồi và các giải pháp cụ thể để thu hồi nợ xấu tại một chi nhánh. Công trình nghiên cứu của tác giả chủ yếu đánh giá về thực trạng nợ xấu và công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai. Hạn chế luận văn mới nêu ra hiện trạng công tác tín dụng, tình hình nợ xấu, chưa đưa ra được các biện pháp xử lý, thu hồi nợ xấu để nâng cao hiệu quả thu hồi nợ xấu tại chi nhánh. Ngân hàng nông nghiệp Gia Lai có tỷ lệ nợ xấu ở mức trung bình so với toàn ngành, nên chưa có những điểm nổi bật về nợ xấu như những chi nhánh có nhiều nợ xấu so với hệ thống của Agribank.
Công trình nghiên cứu của tác giả mang tính chất bao quát toàn bộ hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Vì vậy, số liệu thống kê chỉ mới lấy qua các báo cáo tài chính của một số ngân hàng và một số số liệu mang tính chất tổng quát nên chưa thể hiện được tình hình nợ xấu của một ngân hàng thương mại cụ thể. Công trình đưa ra các giải pháp về quản lý nợ xấu chứ chưa đi sâu vào thu hồi nợ xấu tại các ngân hàng thương mại (4) Luận án tiến sỹ với đề tài " Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần công thương Việt Nam" (2012 - Đại học kinh tế Quốc dân). Luận án của tác giả chủ yếu đi vào các nội dung quản lý tín dụng là 6 chính, quản lý nợ xấu là một nội dung nhỏ.
Công trình nghiên cứu của tác giả chủ yếu dựa trên số liệu thống kê của ngân hàng Công thương đối với các khoản tín dụng, quản lý tín dụng. Chưa đi vào việc xử lý nợ xấu và thu hồi nợ xấu để giải quyết vấn đề nâng cao hiệu quả thu hồi nợ xấu. - Các kỷ yếu hội thảo khoa học: (1) Kỷ yếu hội thảo khoa học: "Nợ xấu, tình trạng và triển vọng pháp lý" do Hội luật gia ngành thương mại quốc tế (AJAI) tổ chức, năm 2015. (2) Kỷ yếu hội thảo khoa học: "Đánh giá kết quả tái cấu trúc ngân hàng và xử lý nợ xấu" do Trường đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức.
(3) Kỷ yếu hội thảo khoa học: " Phát triển thị trường mua bán nợ và xử lý nợ xấu tại Việt Nam" Tạp chí kinh tế và Viện nghiên cứu kinh doanh thuộc trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh tổ chức, năm 2017. Khoảng trống nghiên cứu Các đề tài nghiên cứu về nợ xấu hiện nay chủ yếu đi vào công tác quản lý nợ xấu nói chung như hiện trạng nợ xấu, các nguyên nhân gây ra nợ xấu, thực trạng nợ xấu. Các công trình hiện tại chưa đi vào các biện pháp cụ thể để giải quyết nâng cao hiệu quả thu hồi nợ xấu.
Năm 2013, Ngân hàng nhà nước mới thực sự bắt tay vào giải quyết nợ xấu mà cụ thể là thành lập Công ty mua bán nợ các Tổ chức tín dụng VAMC, để giải quyết các khoản nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Năm 2017, Quốc hội thông qua nghị quyết 42 về thí điểm xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại. Đây là một chính sách nhằm đẩy mạnh vào công tác xử lý nợ xấu nhằm tháo gỡ khó khăn thúc đẩy giải quyết khoản nợ để thu hồi nhằm mục tiêu chính là giảm nợ xấu. Do vậy, Tác giả khi lựa chọn đề tài "Nâng cao hiệu quả thu hồi nợ xấu tại Agribank chi nhánh Sở giao dịch" là rất phù hợp với yêu cầu đặt ra của giai đoạn hiện nay.
7 Trên cơ sở kinh nghiệm thực tế về công tác xử lý nợ xấu, tác giả đưa ra một số giải pháp và kiến nghị có thể đáp ứng được yêu cầu đối với công tác xử lý nợ xấu hiện nay nhằm đẩy nhanh quá trình xử lý và thu hồi nợ xấu. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU 1. Khái quát về tín dụng 1. Khái niệm về tín dụng Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay.
Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng. Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã.
Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tuy nhiên trong sự phát triển của mình, các hình thức quan hệ tín dụng trước không hề mất đi mà vẫn còn tồn tại và phát huy tác dụng khi có sự ra đời một hình thức tín dụng mới.
Ngày nay, tất cả các hình thức tín dụng trên đều còn tồn tại và bổ sung lẫn nhau, và nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế. 8 Như vậy có thể thấy tín dụng trong hoạt động ngân hàng thương mại bản chất là quan hệ vay mượn. Trong đó bên cho vay là ngân hàng chuyển giao tiền cho bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức được ngân hàng cấp tín dụng.), theo đó bên đi vay phải hoàn trả các gốc và lãi cho bên cho vay trong một thời hạn nhất định. Đối với các hoạt động tín dụng nói chung của ngân hàng gọi là cho vay thì theo định nghĩa tại thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 Quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền tệ để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.
Tóm lại, tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các Ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động có nhiều rủi ro nhất. Có thể thấy đặc trưng của Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay. Vai trò của tín dụng Thứ nhất, tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Nhờ có tín dụng với một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng, vốn nhàn rỗi trong xã hội được cung ứng cho các chủ thể kinh tế để đáp ứng nhu cầu đa dạng về sản xuất và tiêu dùng của họ.
Từ đó, vừa đẩy nhanh tốc độ sản xuất và tốc độ tiêu thụ sản phẩm; vừa giúp người cần vốn có thể tiếp cận một cách dễ dàng hơn các nguồn vốn tín dụng, tiết kiệm chi phí giao dịch và các chi phí nguồn vốn khác của họ.