CHƯƠNG I C ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ THU DỊCH v ụ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Thu dịch vụ là một trong các chỉ tiêu của hoạt động kinh doanh của các NHTM. Vì vậy, tác giả sẽ ứng dụng cơ sở lý luận về hiệu qua hoạt động kinh doanh của ngân hàng đê đánh giá hiệu quả thu dịch vụ của MB Khánh Hòa. Chương này, tác giả trình bày các cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động cũng như các chỉ tiêu định tính, định lượng cùng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thu dịch vụ tại ngân hàng. Bên cạnh đó, tác giả phân tích các kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả thu dịch vụ của các ngân hàng và qua đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho MB Khánh Hòa.
Co’ sỏ’ lý luận về dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng và đặc điểm 1. Khái niệm Hiện nay, tại mỗi quốc gia lại có cách hiểu về dịch vụ mà chưa có sự thống nhất trong định nghĩa. Hiệp định chung về thương mại (GATS) của Tồ chức Thương mại Thế giới cũng không nêu khái niệm dịch vụ mà thay vào đó là chia thành 12 ngành lớn.
Trong các ngành lại liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể. Dịch vụ tài chính được xếp thứ 7. Dịch vụ tài chính bao gôm dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Theo WTO thì dịch vụ được chia thành 12 ngành cụ thể như sau: Bảng 1.
Các ngành dịch vụ STT Tên dịch vụ STT Tên dịch vụ 1 Dịch vụ kinh doanh 7 Dịch vụ tài chính Dịch vụ liên quan đến sức khỏe và 2 Dịch vụ liên lạc 8 dịch vụ xã hội 9 Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên 3 Dịch vụ xây dựng và thi công 9 quan đến lừ hành Dịch vụ giải trí, văn hóa và thể 4 Dịch vụ phân phối 10 thao 5 Dịch vụ giáo dục 11 Dịch vụ vận tái 6 Dịch vụ môi trường 12 Các dịch vụ khác Nguồn: WTO. “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter s. Rose cho rằng “ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiêt kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhât so với bât kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Và được giải thích “Mọi NH hoạt động với 3 hoạt động cơ bản là huy động vốn; Hoạt động sử dụng vốn; Các hoạt động khác như thanh toán, ngân quỳ.[18], Theo Luật các tô chức tín dụng Việt Nam có quy định DVNH nhưng không nêu ra định nghĩa mà đưa ra cụm từ “Hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” được bao gồm các nội dung: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, tại khoản 1 và khoản 7, điêu 20 “Là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này đề cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán ’.
Theo Chương 3 của Luật tổ chức tín dụng này đã nêu các điều khoản về hoạt động ngân hàng được chia theo 4 mảng lớn: Huy động vốn, tín dụng, thanh toán và ngân quỹ và các hoạt động khác. Đặc điểm dịch vụ của NHTM - Thứ nhảt: Quá trình cung ứng dịch vụ và tiêu dũng dịch vụ diễn ra đồng thời Ọuá trình cung cấp và tiêu dùng DVNH được diễn ra đồng thời, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng dịch vụ. Đồng thời mỗi dịch vụ lại tuân theo một quy trình nhất định không thề chia cắt được thành các loại 10 dịch vụ khác nhau như quy trình thẩm định, quy trình cho vay.Điều này làm cho DVNH không có dịch vụ dở dang, dịch vụ lưu kho mà được cung cấp trực tiếp cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu. Do đó, các NH thường tạo dựng, duy trì và phát triên các môi quan hệ với khách hàng và các NH khác bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng phát triển hoạt động chăm sóc khách hàng trong đội ngũ nhân viên NH và hiện đại hóa hệ thống cung ứng tạo tính đặc biệt của hoạt động dịch vụ này.
Thứ hai: Tính không ôn định và khó xác định Chât lượng dịch vụ mang tính không đồng nhất. Dịch vụ gắn chặt với người cung câp dịch vụ. Chât lượng phụ thuộc chặt chẽ vào người thực hiện dịch vụ (trình độ, kỳ năng. Hon nữa đối với cùng một cá nhân cung ứng dịch vụ thì chất lượng dịch vụ đôi khi cũng thay đổi theo thời gian.
Thứ ba: Tính không lim giữ được Các DVNH của NHTM mang tính vô hình, do vậy cũng không thể lưu kho được. Trong khi đó nhu cầu dịch vụ thường giao động lớn có thời điểm nhu cầu tăng đột biến, song các NH cũng không thể sản xuất sẵn rồi đem cất trữ. Ví dụ, dịch vụ thanh toán và chuyên tiền tại thời điểm cuối năm là rất lớn nhưng các NH phải tăng cường phương tiện cũng như nguồn nhân lực đề đảm bảo thực hiện các giao dịch hiệu quả nhất. Chính vì vậy chi phí DVNH tương đối cao.
Thứ tư: Dịch vụ mang tính vô hình Đây chính là đặc điểm chính để phân biệt DVNH với các dịch vụ của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân. DVNH không thể nhìn thấy được, cảm nhận được, nghe được trước khi mua chúng như bất cứ dịch vụ vẫn được cung câp. Khách hàng khi đến với NH không thể biết chắc chắn số tiền của mình có được an toàn hay không? số tiền thanh toán cho khách hàng có đúng hẹn hay không? Do vậy, đê khăc phục đặc điểm này thì trong kinh doanh NH phải dựa trên cơ sở lòng tin. Hoạt động của NH phải hướng vào việc cũng cố và tạo ra lòng tin đối với khách hàng khi sử dụng dịch vụ đối với khách hàng bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ 11 cung ứng, tăng tính hữu hình của dịch vụ, quáng cáo tăng hình ảnh của NH, uy tín, tạo điều kiện để khách hàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho NH.
Các loại hình dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Dịch vụ thanh toán Đây là hoạt động điên hình và có vai trò chìa khóa cho hoạt động cung ứng dich vụ của NHTM đôi với khách hàng nói chung và khách hàng cá nhân nói riêng. Ngày nay dịch vụ thanh toán được tổ chức cung ứng cho người tiêu dùng qua các kênh phân phôi trực tiêp và gián tiêp dựa trên hệ thông kỹ thuật hạ tầng và công nghệ xứ lý hiện đại. Với sự tiến bộ này, khách hàng ngày càng nhận được những dịch vụ thanh toán có tính an toàn, chính xác và tiện ích cao, không nhừng trong nước mà còn trên phạm vi toàn cầu.
Các NHTM khi cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng, NH đóng vai trò là một tổ chức trung gianthực hiện thanh toán thay cho khách hàng của mình. Căn cứ vào phạm vi thực hiện, dịch vụ thanh toán bao gồm: dịch vụ thanh toán trong nước và dịch vụ thanh toán quốc tế. *•* Dịch vụ thanh toán trong nước Nên kmh tê ngày càng phát triên thì nhu câu thanh toán hàng hóa dịch vụ càng gia tăng, hoạt động thanh toán trong nước của các NHTM đáp ứng nhu cầu rất lớn cho khách hàng nói chung và dân cư nói riêng. Các khách hàng có thể sử dụng dịch vụ này đê thanh toán tiên hàng hóa, dịch vụ, kinh doanh chứng khoán, cho tặng người thân hay sử dụng dịch vụ chuyển tiền tự động, đầu tư tự động để sinh lời.
Khách hàng có thê chuyên tiên băng bản tệ hay ngoại tệ theo qui định về quản lý ngoại hối của từng nước từ các nguồn khác nhau như tiền gừi thanh toán, tiền vay, tiền mặt.Và qua các hình thức như séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi hay lệnh chuyển tiền. - Phát hành và thanh toán séc trong nước: Séc là phuơng tiện thanh toán không dùng tiên mặt do người ký phát lập dưới hình thức chứng từ theo mầu in sẵn, lệnh cho người thực hiện thanh toán trả không điều kiện một số tiền nhất định cho người thụ hưởng. Các bên tham gia trong giao dịch séc bao gồm: Người ký phát, người thanh toán là NH mà séc được ký phát đế rút tiền và người thụ hưởng hoặc người 12 được ủy quyền, NH trả tiền cũng đồng thời là NH thanh toán, còn NH mà người thụ hưởng nộp séc vào được gọi là NH nhờ thu. Bằng phương thức thanh toán séc, người mua hàng trực tiếp trao séc cho người bán hàng.
- Uy nhiệm thu: Là lệnh của người chuyên tiền đê ghi có tài khoản của người thụ hưởng tại NH hưởng và trích nợ tài khoản của người chuyển tiền tại NH phát lệnh. Hình thức thanh toán ủy nhiệm thu phải có thỏa thuận thanh toán giữa người thụ hường và người chuyến tiền, thỏa thuận này phải được thông báo bởi người thụ hưởng tới NH hưởng. Uy nhiệm thu thường được sử dụng để thanh toán các khoản cung câp dịch vụ, hàng hóa định kỳ có dụng cụ đo lường hoặc hợp đồng sử dụng đã ký giữa người cung câp và người sử dụng. Ví dụ như tiền điện, tiền nước, tiền thuê bao điện thoại, tiên thuê truyền hình cáp, tiền thuê nhà.
các khoản vay tư nhân, tiền mua nhà trả góp. Ưu điểm của ủy nhiệm thu là tạo khả năng ứng dụng công nghệ xử lý tự động cho khối lượng lớn khách hàng trong các định kỳ thanh toán từ đó tạo ra những tiện ích cho khách hàng, chủ động nguồn thu, tiết kiệm thời gian, chi phí, đồng thời là lợi thê của NH phát triên công nghệ để thu hút khách hàng mở rộng thị trường dịch vụ. - Uy nhiệm chi: Là lệnh của người chuyển tiền yêu cầu NH trích nợ tài khoản của người chuyên tiền tại NH phát lệnh và ghi có tài khoản của người thụ hưởng tại NH hưởng. Ngày nay hình thức thanh toán này được khách hàng biết đến rất phổ biên, khách hàng có thê thực hiện ủy nhiệm chi để chuyền tiền tới người hưởng bất kỳ tại một NH được chỉ định trong nước qua các kênh thanh toán điện tử liên NH.
qua NHNN, hoặc thanh toán online trong hệ thống một NH. *** Dịch vụ thanh toán quốc tế Chuyên tiền đi nước ngoài: Ngày nay trong xu thê hội nhập quốc tế, các nước đã có sự nới lỏng các giao dịch vãng lai, các cá nhân được chuyển tiền đi nước ngoài đê thanh toán cho các mục đích được phép một cách dề dàng.