Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ C ơ BẢN TRONG THAM đ ị n h t à i c h í n h DOANH NGHIỆP VÀ TÀI CHÍNH D ự ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG c ơ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái niệm ngân hàng thương mại Do đặc điểm hoạt động của các ngân hàng thương mại rất đa dạng, nên quan niệm thống nhất về ngân hàng thương mại giữa các nước không giống nhau. Do vậy, ngân hàng thương mại được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở các nước trên thế giới.
Chẳng hạn: Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Ở Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng thương m ại;. Nét đặc trưng của các NHTM so với các tổ chức tài chính khác là chuyên về nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Tất nhiên dù là các ngân hàng thương mại hay tổ chức tài chính nào đó khác đều phải hoạt động trong phạm vi luật pháp cho phép và đều phải dựa trên cơ sở là sự phát triển của hoạt động sản xuất và thương mại nói chung của nền kinh tế.
Theo tinh thần đó, Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam, ban hành năm 1998 đã định nghĩa: “NHTM là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi 4 và sử dụng tiền gửi đ ể cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán'' [15]. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại: * Huy động các nguồn vốn: Nguồn vốn của các ngân hàng thu hút được theo 3 kênh chính gồm: Nhận tiền gửi, vay vốn trên thị trường và thu vốn chủ sở hữu [1], [2]. Một là, Huy động tiền gửi: Các ngân hàng huy động tiền gửi dưới các hình thức cơ bản như nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn hoặc tiền gửi tiết kiệm. - Tiền gửi không kỳ hạn là tiền của khách hàng gửi vào ngân hàng để đáp ứng nhu cầu của thanh toán, phát hành séc để chi trả cho bên thứ ba hoặc rút tiền mặt ở bất kỳ thời điểm nào.
Người gửi không được trả lãi hoặc nếu có thì lãi suất thường rất thấp. Chủ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn thường là các doanh nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu về chi trả thường xuyên và các cá nhân có nhu cầu thanh tóan vãng lai - Tiền gửi tiết kiệm là loại nguồn vốn hình thành khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích tiết kiệm, gồm: tiền gửi tiết kiệm trên sổ tiết kiệm, tài khoản có sao kê tình hình tiền gửi tiết kiệm và chứng chỉ tiết kiệm. - Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu khi cần huy động nguồn vốn nhanh,. Hai là, vay vốn trên các thị trường.
Ngoài nguồn tiền gửi, các ngân hàng còn chủ động vay vốn trên thị trường. Những hình thức chủ yếu là vay từ Ngân hàng Trung ương, các khoản vay NHTM khác trên thị rường liên ngân hàng. Ba là, huy động vốn từ chủ sở hữu. Phát hành thêm cổ phiếu để tăng nguồn vốn chủ sở hữu và trích lập từ quĩ lợi nhuận của ngân hàng.
* Cho vay vốn và đầu tư Với tư cách là những trung gian tài chính, phần lớn thu nhập của các ngân hàng có được là từ các hoạt động sử dụng vốn dưới các hình thức cho vay và đầu tư. Song các rủi ro cơ bản mà các ngân hàng đối mặt cũng xuất phát chính từ những hoạt động này. Vì vậy, với quan điểm thận trọng, thông 5 thường các ngân hàng sẽ phân bổ quỹ vốn theo cơ cấu ưu tiên VƠI trật tự như sau [4] [6]: Thứ nhất, ngân hàng phải sử dụng một phần quỹ tài sản tiền gửi nhằm đáp ứng được các quy định pháp lý về dự trữ bắt buộc va dự trữ thanh toán. Những quĩ dự trữ này được sử dụng đảm bảo dự phòng cho các nhu cầu thanh khoản nên ngân hàng chỉ dùng vào việc đầu tư mua cac công cụ thanh toan ngắn hạn các chứng khoán có tính thanh khoản cao và không có rui ro.
Thứ hai ngân hàng đáp ứng nhu cầu vay vốn trên khu vực thị trường mà họ phục vụ bằng cách thiết lập những khoản cho vay và cho thuê sao cho phù hợp với nhu cầu và khả năng của khách hàng. Hoạt động cho vay và cho thuê tài chính đối với các doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình là cách sử dụng vốn thông dụng nhất và luôn chiếm vai trò trọng yếu. Lãi suất cho vay, cho thuê chính là nguồn thu nhập của ngân hàng. Phần lớn thu nhập cua các ngân hàng có được là từ mảng hoạt động này, nhất là các ngân hàng hoạt động trong các thị trường tài chính có trình độ phát triên thấp.
Tuy nhiên đây cung là mảng hoạt động làm phát sinh rủi ro nhiều nhất, ngân hàng phải tập trung nhiều nỗ lực nhất và do vậy cũng làm phát sinh nhiều chi phí. Thứ ba đầu tư vào các ngân hàng khác, hoặc các dự án đầu tư dưới hình thưc mua cổ phần, hoặc liên doanh liên kết. Thứ tư ngân hàng sẽ đầu tư vào danh mục đầu tư chứng khoán sau khi đã đáp ứng được các nhu cầu nói trên đối với mọi nguồn quỹ vốn còn lại bằng cách tiến hành các hoạt động mua và nắm giữ các chứng khoán do Chính phủ phát hành hoặc do các doanh nghiệp phát hành nhằm thu lợi nhuận. * Cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng khác [5] Cung cấp dịch vụ thanh toán là nét đặc trưng trong hoạt động của các ngân hàng.
Các ngân hàng chính là chủ thể chính trong các hệ thống thanh toán bù trừ, chuyển tiền và các hệ thống thanh toán dùng và không dùng tiên mặt khác. Ngân hàng thực hiện những dịch vụ này để thu phí, nhưng vì chúng 6 gắn liền với các hoạt động huy động tiền gửi và cho vay của mỗi ngân hàng nên cũng góp phần quan trọng vào việc mở rộng các hoạt động huy động vốn cũng như mở rộng hoạt động cho vay và đầu tư kiếm lời. Lợi ích chính đối với các chủ thể trong nền kinh tế là nhờ có các hệ thống thanh toán của các ngân hàng, họ có thể thanh toán nợ nần phát sinh trong quá trình kinh doanh của họ với độ an toàn cao, tiết kiệm thời gian và chi phí. Các dịch vụ bảo đảm mà khu vực ngân hàng cung cấp cũng là mảng hoạt động quan trọng và gắn liền với các hoạt động huy động tiền gửi, cho vay, đầu tư chứng khoán.
Bên cạnh đó, các ngân hàng còn cung cấp nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng, tài chính khác cho khách hàng như: cung cấp dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo đảm, dịch vụ uỷ thác, dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ kế toán và kiểm toán, dịch vụ chứng khoán, dịch vụ cho thuê két sắt. THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH D ự ÁN TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái niệm thẩm định tài chính dự án trong cho vay của ngân hàng thương mại. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng mang tính chất đặc thù mà các ngành khác không có được.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ: huy động tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế và sử dụng nguồn tiền này để cung cấp các khoản vay cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Các khoản vay mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế là một hình thức tín dụng trong đó ngân hàng, trên cơ sở lòng tin, sẽ giao cho khách hàng một khoản tiền trong một thời gian nhất định với mục đích cụ thể theo nguyên tắc đảm bảo hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và tiền lãi. Đây là một trong những nghiệp vụ hàng đầu và mang tính chất đặc thù của NHTM, chiếm tới 70-80% tổng tài sản có và mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Kết quả hoạt động cho vay quyết định quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng.
Khi đứng trước nhu cầu vay vốn của khách 7 hàng, điều mà ngân hàng quan tâm chính là các khỏan cho vay ra có thể được thu hồi lại đủ, đúng hạn và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng hay không. Một khoản cho vay đem lại lợi nhuận cao sẽ không được các ngân hàng chấp nhận nếu việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán không được đảm bảo. Rủi ro cao đi kèm với lợi nhuận cao song ít có NHTM dám đánh đổi hoàn toàn lợi nhuận và rủi ro. Để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, các ngân hàng thương mại tiến hành rất nhiều biện pháp nhằm phân tán rủi ro, nghiên cứu các nhận định về khách hàng, nghiên cứu và hình thành các bảo đảm tín dụng chắc chắn, nghiên cứu tình hình kinh tê đặc biệt là tình hình tài chính tiền tệ để xây dựng chính sách tín dụng, thông tin rủi ro khách hàng, tăng cường công tác kiểm tra khách hàng.
Thẩm định tài chính dự án trong cho vay có liên quan tới tất cả các biện pháp trên và mặt khác, lại là một khâu quan trọng và cần thiết trong qui trình cho vay của mỗi ngân hàng. Điều đó đòi hỏi mỗi khi ngân hàng thực hiện cho vay theo một dự án, phương án nào đó hỏi phải tiến hành thẩm định tài chính của dự án, phương án vay vốn đó [11], Thâm định tài chính dự án trong cho vay không đổng nhất với phân tích tài chính hay kiểm tra, giám sát tín dụng. TĐTCDA trong cho vay là một qui trình gồm nhiều bước (gọi tắt là TĐTCDA). TĐTCDA khác với phân tích tài chính.
Phân tích tài chính là quá trình sử dụng các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của một đơn vị trong một thời kì nhất định, thường là một năm, nhằm tìm ra những nguyên nhân dẫn đến hoạt động có hiệu quả hay không hiệu quả để tìm ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh. Phân tích tài chính dựa trên các sô liệu cụ thể vể tình hình hoạt động kinh doanh, chỉ bao gồm những yếu tố mang tính chất thiên về tài chính chứ không quan tâm nhiều tới các yếu tố phi tài chính.