Chương I: Tài chính vi mô và vai trò của nó trong xoá đói giảm nghèo 1 Chương II: Thực trạng hoạt động tài chính vi mô của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Chương III: Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính vi mô của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam thời gian tới. CHƢƠNG I TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ 1.
Khái niệm và lịch sử hình thành tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi mô. Khái niệm về tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi mô. Khái niệm về tài chính vi mô (TCVM). Về mặt ngữ nghĩa, “tài chính vi mô” tức là “tài chính có quy mô rất nhỏ”, là hoạt động trung gian tài chính chủ yếu phục vụ các tác nhân kinh tế nằm ngoài vòng tròn khép kín của hoạt động ngân hàng.
Tài chính vi mô cung cấp các dịch vụ chủ yếu như tín dụng, tiết kiệm và bảo hiểm với quy mô rất nhỏ. Theo định nghĩa của ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB): “Tài chính vi mô là việc cung cấp các dịch vụ huy động tiền gửi, cho vay, thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo, các hộ gia đình có thu nhập thấp 1 và doanh nghiệp nhỏ của họ”. Khái niệm về tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM): 1 [23, Tr. 30] 1 Các tổ chức tài chính vi mô là những chủ thể thực hiện việc cung cấp dịch vụ tài chính với quy mô rất nhỏ, chủ yếu bao gồm các ngân hàng, các hợp tác xã, các tổ chức phi Chính phủ (NGOs), v.v…nhằm thực hiện các mục tiêu khác nhau (xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ, phát huy vai trò của phụ nữ và các mục tiêu xã hội khác) thông qua các phương thức khác nhau (cho vay theo tổ nhóm, cho vay cá nhân, tiết kiệm tự nguyện, tiết kiệm bắt buộc,…).
Khách hàng của các TCTCVM thường là các hộ gia đình có thu nhập thấp và thường phải chịu nhiều rủi ro hơn so với các đối tượng khách hàng của các ngân hàng. Như vậy, có thể hiểu TCTCVM là một định chế cung cấp các dịch vụ tài chính cho các đối tượng khách hàng có thu nhập thấp. Khái niệm theo nghĩa rộng này bao hàm các chủ thể cung cấp các dịch vụ TCVM khác nhau về địa vị pháp lý, chức năng nhiệm vụ, phương thức hoạt động và khả năng bền vững. Tuy nhiên, chúng có những nét đặc trưng giống nhau trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho đối tượng khách hàng có thu nhập thấp và dễ bị tác động bởi các yếu tố rủi ro hơn so với khách hàng truyền thống của các ngân hàng.
TCTCVM còn có thể được hiểu với một nghĩa rộng hơn nữa là bất cứ tổ chức nào ngân hàng thương mại quy mô nhỏ, quỹ tín dụng và tiết kiệm, các tổ chức tài chính phi chính phủ, các hợp tác xã tín dụng thực hiện việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo. Lịch sử hình thành tài chính vi mô. Trước đây, TCVM thường gắn liền với cho vay nặng lãi. Ở vùng nông thôn, những người buôn bán thường cho các hộ gia đình vay những món tiền nhỏ để trang trải các chi phí phát sinh trong sinh hoạt (như giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, ma chay, cưới hỏi,…) hoặc các khoản chi tiêu bất thường khác.
Lãi suất của các món vay này thường rất cao và đôi khi được hoàn trả bằng các sản phẩm nông nghiệp khi đến mùa thu hoạch. Hoạt động này đã đáp ứng 1 phần nào nhu cầu của người dân, nhưng lại đẩy họ vào vòng nợ luẩn quẩn và hệ quả thấy rõ nhất là người giàu càng trở nên giàu hơn, người nghèo càng trở nên nghèo hơn. Một trong những hoạt động khác liên quan đến lịch sử của TCVM là “hụi” (hay còn gọi là “họ”), tức là các nhóm tiết kiệm và tín dụng không chính thức hoạt động dựa vào nguyên tắc quay vòng. Hình thức chơi hụi được biết đến từ thế kỷ XVI ở khắp nơi trên thế giới: Châu Phi, Ca-ri-bê, In-đô-nê- xia, Phi-líp-pin, Ấn Độ…Có nhiều biến thể khác nhau từ loại hình này nhưng chúng đều cùng dựa trên nguyên tắc là đưa các sản phẩm (như lúa, gạo…), sức lao động hoặc sau này là tiền vào sử dụng chung nhằm mục đích tích luỹ cho thành viên của nhóm sử dụng theo thứ tự.
Tuy nhiên, có thể nói rằng TCVM được khởi xướng bắt nguồn từ hai phát hiện quan trọng trong những năm 1970: (1) Phát hiện thứ nhất cho rằng người nghèo có khả năng và sẵn sàng hoàn trả các khoản vay theo lãi suất thị trường. Kinh nghiệm thực tiễn ở châu Mỹ - Latinh, châu Á đã chứng minh rằng các hộ nghèo có nhu cầu vay vốn và sẵn sàng trả mức lãi suất đủ để bù đắp các chi phí của các tổ chức cho vay. Phát hiện này đã loại bỏ định kiến rằng người nghèo không có khả năng trả nợ. Ngày nay, hầu hết các TCTCVM ghi nhận rằng tỷ lệ nợ quá hạn chỉ thấp hơn 5%.
Với một tỷ lệ nợ quá hạn thấp như vậy, khả năng thành lập các TCTCVM bền vững trở nên thực tế đối với những tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính; (2) Phát hiện thứ hai cho rằng, áp lực tập thể có thể thay thế cho việc thế chấp tài sản. Các nhà thực hành TCVM nhận thấy rằng việc cho các nhóm người thực hiện bảo lãnh món vay, đối với các thành viên của nhóm có tỷ lệ hoàn trả rất cao. Do người nghèo thường không có phương tiện bảo đảm món vay nên phát hiện này đã mở ra hình thức cho vay liên đới như là một phương tiện cung cấp các dịch vụ tài chính cho những đối tượng khách hàng thực sự nghèo đói. 1 Có thể nói TCTCVM đầu tiên có hoạt động tài chính gắn liền với phát triển cộng đồng đó là Ngân hàng Shore (thành lập năm 1973 tại Chicago) và sau đó là Ngân hàng Grameen do Giáo sư kinh tế Mohamed Yunus (người được nhận giải thưởng Nô-ben năm 2006) thành lập năm 1974 tại Băng-la- đét.
Giáo sư kinh tế Mohamed Yunus ở Băng - la - đét đã chứng minh rằng vài đô la cũng có thể giúp người nghèo thực hiện các hoạt động sinh lợi và thoát khỏi đói nghèo. Các món cho vay đầu tiên mà giáo sư thực hiện vào năm 1978 đã dẫn đến thành lập một NGO, tổ chức này chính là tiền thân của ngân hàng Grameem (Grameen Bank) hiện đang phục vụ hàng triệu khách hàng với tổng số tiền cho vay khoảng 6 tỷ đô la Mỹ. Sau đó, hoạt động TCVM lan rộng ra các vùng khác nhau trên thế giới, nhất là khi nhu cầu của người nghèo tăng lên vào những năm 1980 và các tổ chức tư nhân tình nguyện quốc tế (IVPO) và các NGO bắt đầu đưa hoạt động TCVM vào chương trình xoá đói giảm nghèo. Các IVPO tài trợ vốn, tổ chức đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho các NGO đối tác tại địa phương để thực hiện việc cung cấp các dịch vụ TCVM cho cộng đồng dân cư.
Hai vị “tiền bối” của các dự án TCVM này tiếp tục cùng tồn tại với các sáng kiến hiện nay trong cuộc chiến chống đói nghèo. Khu vực TCVM đã có nước phát triển nhảy vọt trong hai mươi năm qua. Năm 1997, trên thế giới có khoảng 7.000 tổ chức thực hiện các dự án TCVM cho vay món nhỏ đối với các doanh nghiệp nhỏ, huy động tiền gửi phù hợp với nhu cầu của các hộ nghèo và thực hiện các dịch vụ tài chính khác như dịch vụ chuyển tiền. Cho đến nay, đại đa số các tổ chức này vẫn là các NGO hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
Tuy nhiên một số hợp tác xã tín dụng tiết kiệm, nhất là ở châu Phi bắt đầu cung cấp các dịch vụ TCVM và 1 một số tổ chức tài chính chính thức cũng như một số ngân hàng thương mại bắt đầu tham gia vào lĩnh vực này. Hiện nay, nguồn vốn của các TCTCVM chủ yếu đến từ các nhà tài trợ và các chính phủ. Nhưng các tổ chức tài chính lớn lại nhận thấy rằng yêu cầu của khách hàng vượt xa nguồn vốn tài trợ đó. Bên cạnh đó, các tổ chức này cũng cho thấy có thể cung cấp các dịch vụ TCVM trên một cơ sở tài chính bền vững: khách hàng tìm thấy lợi ích của mình trong các dịch vụ mà TCTCVM cung cấp và họ sẵn sàng trả một mức giá phù hợp.
Khi trở nên bền vững về mặt tài chính, một TCTCVM có thể bắt đầu tài trợ các khoản cho vay bằng tiền gửi huy động và các nguồn vốn thương mại khác. Như vậy, TCTCVM có thể thoát khỏi hạn chế gắn liền với nguồn tài trợ do các tổ chức cấp vốn áp đặt nhưng vẫn đảm bảo được các dịch vụ tiết kiệm an toàn và thuận lợi cho khách hàng. Sự phát triển của lĩnh vực TCVM trong thời gian qua có xu hướng đáp ứng một nhu cầu hiển nhiên của việc đa dạng hoá các dịch vụ, từ việc cho vay đơn thuần đến các dịch vụ tài chính linh hoạt và có chất lượng nhằm thực hiện tốt hơn vai trò của TCVM trong cuộc chiến chống đói nghèo. Một trong những ví dụ thú vị nhất là dịch vụ bảo hiểm xã hội do Hiệp hội Phụ nữ tự quản (SEWA) tại nhiều bang ở Ấn Độ thực hiện.
Ngoài ra, cũng có thể kể đến các hình thức dịch vụ thuê mua vi mô (micro - leasing) hay cho vay bằng hiện vật (ví dụ cho vay bằng gia súc, cây giống) nhất là đối với những người rất nghèo. Với đối tượng khách hàng này, các TCTCVM cũng bắt đầu cung cấp các khoản cho vay tiêu dùng để trang trải các chi phí giáo dục, y tế,… Việc cho vay tiêu dùng giúp cho các hộ nghèo trang trải các loại chi phí tiêu dùng mà không làm thâm thủng nguồn vốn sản xuất, kinh doanh của gia đình họ. Định hướng của hoạt động TCVM và nhất là tín dụng vi mô đối với phụ nữ ngày càng trở nên rõ nét qua thực tế hoạt động của ngân hàng 1 Grameen ở Băng - la - đét. Mục tiêu xuất phát ban đầu là cho vay đối với phụ nữ cũng như nam giới và lúc đầu không dễ gì có thể đạt được tỷ lệ cho vay đối với phụ nữ là 50%.
Sau một thời gian ngắn, phụ nữ đã tỏ ra là đối tượng khách hàng đáng tin cậy và sòng phẳng nhất. Ngày nay, 95% khách hàng vay vốn của Ngân hàng Grameen là phụ nữ và họ luôn là những khách hàng hoàn trả vốn vay tốt hơn so với nam giới.