CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬDỤNG VỐN 1. Khái niệm, phân loại và vai trò của vốn kinh doanh 1. Khái niệm vốn kinh doanh Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển được đều cần phải có nguồn tài chính đủ mạnh, đây là một trong ba yếu tố quan trọng giúp cho doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động của mình. Có nhiều quan điểm về vốn như: + Theo luật tài chính Việt Nam 2000: Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được đưa vào lưu thông nhằm mục đíchkiếm lời, tiền đó được sử dụng muôn hình muôn vẻ.
Nhưng suy cho cùng là để muasắm tư liệu sản xuất và trả công cho người lao động, nhằm hoàn thành công việc sảnxuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn ban đầu.Do đó vốn mang lại giá trị thặng dư cho doanh nghiệp. Quan điểm này đã chỉ rõ mụctiêu của quản lý là sử dụng vốn, nhưng lại mang tính trừu tượng, hạn chế về ý nghĩađối với hạch toán phân tích quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp. + Theo quan điểm của Mác thì: Vốn không phải là vật, là tưliệu sản xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê.
Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của quá trìn h sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Mác chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến. Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nhà xưởng.) mà giá trị của nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm.
Còn tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức lao động, trong quá trình sản xuất thay đổi về số lượng, tăng lên do sức lao động của hàng hoá tăng.Samuelson, nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển đã kế thừa các trường phái cổ điển về yếu tố sản xuất để phân chia các yếu tố đầu vào của sản xuất thành ba bộ phận là đất đai, lao động và vốn. Theo ông, vốn là các hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu tư vào cho một hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, đó có thể là máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ… Trong quan niệm Sinh viên: Phạm Thị Nguyệt - Lớp: QT1501N 3 Trƣờng Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp của ông không đề cập đến các tài sản tài chính, những tài sản có giá có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. + Trong cuốn kinh tế học của David Beeg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa về vốn: vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hóa, sản phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hóa khác.
Vốn tài chính là tiền vavf các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Như vậy, David Beeg đã bổ sung khái niệm vốn tài chính cho quan điểm của Samuelson. + Có thể thấy các quan điểm khác nhau ở trên một mặt thể hiện được vai trò tác dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể. Mặt khác trong cơ chế thị trường hiện nay đứng trên phương diện hạch toán và quản lý các quan điểm đó chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về quản lý đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Nhưng nhìn chung thì có thể thấy các nhà kinh tế đã thống nhất ở điểm chung cơ bản: Vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ cung cấp ra thị trường. Nhưvậy vốn doang nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ vật tư, tài sản được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy vốn là một loại hàng hóa đặc biệt. Phân loại vốn kinh doanh Trong quá trình sản xuất kinh doanh để quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả các doanh nghiệp đều tiến hành phân loại vốn.
Tuỳ thuộc vào mục đích và loại hình của từng doanh nghiệp mà doanh nghiệp phân loại vốn theo những tiêu thức khác nhau. Căn cứ theo nguồn hình thành Vốn chủ sở hữu Vốn góp: + Góp vốn là một trong những vấn đề quan trọng nhất, là tiền đề cho việc thành lập, mở rộng và phát triển công ty. Luật doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn đã quy định về vấn đề góp vốn, trình tự, thủ tục góp vốn cũng như thời hạn góp vốn. + Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty.
Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu Sinh viên: Phạm Thị Nguyệt - Lớp: QT1501N 4 Trƣờng Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty (Khoản 4, Điều 4, Luật doanh nghiệp). + Loại tài sản góp vốn có thể là: - Tiền Việt Nam. - Ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng. - Giá trị quyền sử dụng đất.
- Giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật… Lãi chưa phân phối: + Lãi chưa phân phối là 1 chỉ tiêu trên Bảng CĐKT, thể hiện lợi nhuận sau thuế còn lại chưa chia cổ tức và chưa phân phối cho các Quỹ (hoặc sau khi chia cổ tức, sau khi phân phối cho các Quỹ) tại thời điểm thể hiện BCTC. Lợi nhuận trước thuế sau khi nộp thuế thì sẽ được công dồn vào Lợi nhuận chưa phân phối trên BCTC. Vốn pháp định: + Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do pháp luận quy định đối với từng ngành nghề. Vốn tự bổ sung: + Vốn tự bổ sung là vốn chủ yếu do doanh nghiệp được lấy một phần từ lợi nhuận để lại doanh nghiệp nó được thực hiện dưới hình thức lấy một phần từ quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính.
Vốn chủ sở hữu khác: + Đây là loại vốn mà số lượng của nó luôn có sự thay đổi vì lý do đánh giá lại tài sản, do chênh lệch giá ngoại tệ, do được ngân sách cấp kinh phí, do các đơn vị thành viên nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng cơ bản. Vốn huy động của doanh nghiệp: + Ngoài các hình thức vốn do nhà nước cấp thì doanh nghiệp còn có một loại vốn mà vai trò của nó khá quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường đó là vốn huy động. Để đạt được số vốn cần thiết cho một dự án, công trình hay một nhu cầu thiết yếu của doanh nghiệp mà đòi hỏi trong một thời gian ngắn nhất mà doanh nghiệp không đủ số vốn còn lại trong doanh nghiệp thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự liên doanh liên kết, phát hành trái phiếu hay huy động các nguồn vốn khác dưới hình thứcvay nợ hay các hình thức khác. Sinh viên: Phạm Thị Nguyệt - Lớp: QT1501N 5 Trƣờng Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp Vốn vay + Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các cá nhân hay các đơn vị kinh tế độc lập nhằm tạo lập và tăng thêm nguồn vốn.
Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng là rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Nguồn vốn này đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụng ngắn hạn hoặc dài hạn tuỳ theo nhu cầu của doanh nghiệp trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Vốn vay trên thị trường chứng khoán. Tại các nền kinh tế có thị trường chứng khoán phát triển, vayvốn trên thị trường chứng khoán là một hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp.
Vốn liên doanh liên kết: + Doanh nghiệp có thể liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp khác nhằm huy động và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là tiền đề để cho doanh nghiệp có thể lựa chọn và sử dụng hợp lý nguồn tài trợ tuỳ theo loại hình sởhữu, ngành nghề kinh doanh, quy mô trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật.cũng như chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh nghiệp. Bên cạnh đó việc quản lý vốn ở các doanh nghiệp trọng tâm cần đề cập đến là hoạt động luân chuyển vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thức khác nhau của tài sản và hiệu quả vòng quay vốn. Vốn cần được nhìn nhận và xem xét dưới trạng thái động với quan điểm hiệu quả.
Căn cứ vào công dụng kinh tế của vốn Vốn cố định Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Số vốn đầu tư, mua sắm thiết bị xây dựng hay lắp đặt. các tài sản cố định vô hình và hữu hình để phục vụ sản xuất kinh doanh được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. Đây là số vốn đầu tư ứng trước, sốvốn này nếu sử dụng có hiệu quảsẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi nó dần khi chuyển dần một phần giá trị của nó vào sản phẩm hay dịch vụ.
Chính vì vậy quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của tài sản cố định và ảnh hưởng đến trình độ trang bị tài sản cố định cho sản xuất kinh doanh. Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu của doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nó không thay đổi hình thái vật chất ban đầu, nó có thể tham gia nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm hàng hoá và giá trị Sinh viên: Phạm Thị Nguyệt - Lớp: QT1501N 6 Trƣờng Đại Học Dân Lập Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp của nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá trị của sản phẩm tuỳ theo mức độ hao mòn về vật chất của tài sản cố định. Bộ phận chuyển dịch vào trong giá trị của sản phẩm mới tạo nên một yếu tố chi phí sản xuất sản phẩm và được thu hồi sau khi tiêu thụđược sản phẩm.