đặt vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lên hàng đầu. Tuy nhiên, nâng cao hiệu 10 quả sử dụng vốn không phải là một nhiệm vụ đơn giản, trước khi tìm ra các giải pháp thực hiện thì các doanh nghiệp trong công ty cổ phần cần phải giải quyết được các vấn đề cơ bản sau: - Phải khai thác nguồn lực vốn một cách triệt để, không để vốn nhàn rỗi, lãng phí, sử dụng vốn đúng mục đích, tiết kiệm có nghĩa là doanh nghiệp phải xác định được thời điểm bỏ vốn, quy mô bỏ vốn sao cho đem lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất. - Doanh nghiệp cần phải có chiến lược sản xuất kinh doanh, có kế hoạch quản lý phân bổ sử dụng vốn một cách hợp lý và quan trọng là phải luôn huy động, đầu tư thêm để mở rộng qui mô sản xuất và lĩnh vực hoạt động. Đây là những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói riêng và công ty cổ phần nói chung liên quan đến vấn đề bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp.
Thực hiện được những yêu cầu trên tức là doanh nghiệp đã tìm ra một nửa trong số các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Mục đích của hoạt động quản lý, sử dụng vốn của công ty cổ phần chính là hiệu quả sử dụng vốn, bởi vì hiệu quả sử dụng vốn cao hay thấp sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường. Hiệu quả là một phạm trù được xác định bằng tỷ lệ giữa hai chỉ tiêu là kết quả đầu ra) và chi phí các nguồn lực đầu vào) hay phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực. Cần chú ý rằng trình độ sử dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay giá trị mà chỉ là một phạm trù tương đối, được phản ánh bằng số tương đối là: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực.
Như vậy, hiệu quả sử dụng vốn là một khái niệm rộng bao hàm cả mặt kinh tế, chính trị, xã hội, là thước đo tăng trưởng của mỗi công ty cổ phần, phản ánh trình độ và sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội nhất định. Hiệu quả sử dụng vốn thường được thể hiện thông qua quan hệ so sánh giữa các lợi ích trực tiếp và gián tiếp thu được với các chi phí trực tiếp và gián tiếp bỏ ra trong quá trình kinh doanh. Nếu coi hiệu quả KD là mục tiêu thì hiệu quả sử dụng vốn là một phương tiện hữu hiệu để đạt được mục tiêu đó. 11 Nói đến sử dụng vốn có hiệu quả có nghĩa là trong quá trình hoạt động kinh doanh phải thu được những lợi ích cao nhất đồng thời với chi phí thấp nhất.
Từ đó, có thể phát biểu rằng: hiệu quả sử dụng vốn phản ánh một mặt của hiệu quả KD, là thước đo trình độ quản lý và sử dụng vốn của công ty cổ phần trong việc tối đa hóa lợi ích thu được với tối tiểu hóa chi phí nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Để thực hiện quan điểm, phương hướng, mục tiêu phát triển công ty cổ phần, trong đó cần chú trọng đến nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, công ty cổ phần cần có giải pháp toàn diện về hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh tế - xã hội. Thứ nhất, hiệu quả xã hội: công ty cổ phần cần tập trung trí tuệ, sử dụng các nguồn lực sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định. Các mục tiêu như: giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống cho người lao động, cải thiện điều kiện lao động, góp phần xoá nghèo một cách bền vững.
Thứ hai, hiệu quả kinh tế: công ty cổ phần biết cách vận dụng những lợi của nền kinh tế vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, sử dụng nguồn lực trong xã hội để đạt được hiệu quả kinh tế. Để có hiệu quả kinh tế cao, trước hết hiệu quả KD trong Công ty phải cao, bởi vì kết quả của một nền kinh tế đạt được trong mỗi thời kỳ không phải lúc nào cũng là kết quả của từng doanh nghiệp trong công ty cổ phần. Thứ ba, hiệu quả kinh tế - xã hội: Hiệu quả kinh tế - xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để đạt được các mục tiêu kinh tế nhất định. Hiệu quả kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế hỗn hợp và được xem xét ở góc độ vĩ mô; đó là nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của các công ty cổ phần là thu được lợi nhuận cao. Quá trình kinh doanh của công ty cổ phần cũng là quá trình hình thành và sử dụng vốn. Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện ở số lợi nhuận công ty cổ phần thu được trong kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn. Xét trên góc độ sử 12 dụng vốn, lợi nhuận thể hiện kết quả tổng thể của quá trình phối hợp tổ chức đảm bảo vốn và sử dụng TS vốn) dài hạn và ngắn hạn của công ty cổ phần.
Để đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả sử dụng vốn trong công ty cổ phần cần phải xem xét hiệu quả sử dụng vốn ở từng khâu, sử dụng nhiều chỉ tiêu để phân tích, đánh giá mức sinh lời của đồng vốn. Xuất phát từ mục tiêu đánh giá, các công ty cổ phần xác định và sử dụng các chỉ tiêu tài chính thích hợp. Khi sử dụng các chỉ tiêu phản ánh mức sinh lời của vốn, để so sánh giữa các công ty cổ phần khác nhau hay so sánh giữa các thời kỳ khác nhau, doanh nghiệp cần phải đảm bảo tính đồng nhất của chỉ tiêu. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần của Ngô Kim Phượng và cộng sự 2016) như sau: a.
Nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn (ROA) Tỷ suất này còn được gọi là tỷ suất sinh lời ròng của tài sản ROA). Hệ số này phản ánh mỗi 100 đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROA càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn của công ty càng cao và ngược lại. Tỷ suất lợi nhuận sau Lợi nhuận sau thuế = (%) thuế trên vốn (ROA) Tổng TS bình quân trong kỳ Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE) Đây là một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm.
Hệ số này đo lường mức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi 100 đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ. Cách xác định như sau: Tỷ suất lợi nhuận vốn Lợi nhuận sau thuế = (%) chủ sở hữu ROE) Vốn CSH bình quân Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu hay khả năng sinh lời của phần vốn góp. ROE càng cao thì khả năng sinh lời của vốn góp càng lớn và ngược lại. Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP) Chỉ tiêu này còn được gọi là sức sinh lợi căn bản basic earning power).
Chỉ 13 tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn không tính đến ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính và chính sách thuế. Cách xác định như sau: Tỷ suất lợi nhuận trước Lợi nhuận trước lãi vay và thuế lãi vay và thuế trên vốn = (%) Tổng tài sản hay VKD bình quân) (BEP) Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS) Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần trong kỳ của công ty cổ phần. Nó thể hiện, khi thực hiện một đồng doanh thu trong kỳ, công ty cổ phần có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận sau Lợi nhuận sau thuế thuế trên doanh thu = (%) Doanh thu thuần (ROS) Chỉ tiêu này cũng là một trong những chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý, tiết kiệm chi phí của một công ty cổ phần.
Nếu công ty mẹ quản lý tốt chi phí thì sẽ nâng cao được tỷ suất này. Bên cạnh đó, tỷ suất này phụ thuộc lớn vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật trong lĩnh vực kinh doanh của công ty cổ phần và chiến lược cạnh tranh của công ty cổ phần. Đối với công ty cổ phần, việc thay đổi ROS còn có thể do doanh nghiệp điều chỉnh thay đổi cơ cấu sản phẩm tiêu thụ. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh Tỷ suất giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần Tỷ suất giá vốn hàng bán Giá vốn hàng bán trong kỳ = (%) trên doanh thu thuần Doanh thu thuần trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số doanh thu thuần thu được, trị giá vốn hàng bán chiếm bao nhiêu %.
Chỉ tiêu này càng nhỏ cho thấy, việc quản lý các khoản chi phí trong giá vốn hàng bán càng tốt và ngược lại. Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng đối với công ty cổ phần nói chung và đặc biệt là công ty bất động sản nói riêng. Bởi lẽ trong công ty bất động sản, giá vốn hàng bán là chi phí chiếm tỷ trọng rất lớn, do đó, việc giảm tỷ suất giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần sẽ làm gia tăng hiệu 14 quả sử dụng vốn của công ty. Vòng quay tổng tài sản Vòng quay tổng tài sản cho biết một đồng vốn đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.
Nếu hiệu suất cao hơn mức trung bình của ngành là tốt, nếu thấp hơn chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của công ty cổ phần đó thấp. Doanh thu thuần Vòng quay tổng tài sản = Vốn Tổng TS) bình quân Vòng quay hàng tồn kho Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho.
Vòng quay hàng tồn Giá vốn hàng bán = kho Bình quân hàng tồn kho Trong đó: Bình quân hàng Hàng tồn kho năm trước + Hàng tồn kho năm nay = tồn kho 2 Hệ số vòng quay hàng tồn kho được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm.