Chương 1:Tổng quan về đất canh tác và hiệu quả sử dụng đất canh tác trong nông nghiệp. Chương 2: Thực trạng sử dụng và hiệu quả sử dụng đất canh tác trên địa bàn xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác trên địa bàn xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT CANH TÁC VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CANH TÁC TRONG NÔNG NGHIỆP 1. Những vấn đề lý luận về đất canh tác và hiệu quả sử dụng đất canh tác trong nông nghiệp 1.
Đất canh tác và sử dụng đất canh tác trong nông nghiệp a) Khái niệm và phân loại về đất canh tác trong nông nghiệp * Khái niệm về đất canh tác trong nông nghiệp [27] Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và đặc biệt của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau. Theo nghĩa rộng đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất vườn tạp. Theo nghĩa hẹp, đất nông nghiệp được sử dụng chủ yếu vào sản xuất các ngành như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng để nghiên cứu về nông nghiệp. Đất canh tác hay còn gọi là đất cây trồng hàng năm, được sử dụng để trồng các loại cây ngắn ngày, có chu kỳ sinh trưởng không quá một năm.
Phần lớn các sản phẩm cây lương thực, thực phẩm cung cấp cho con người được sản xuất trên loại đất này. Có thể nói đây là bộ phận chiếm vị trí hết sức quan trọng trong quỹ đất nông nghiệp. Vì đóng vai trò quan trọng nên đất canh tác được quy định về tiêu chuẩn khá chặt chẽ đảm bảo cho các cây trồng có chu kỳ sản xuất trong khoảng một năm được sinh trưởng và phát triển bình thường. Tuy nhiên phải quy hoạch và sử dụng hợp lý kết hợp những biện pháp cải tạo bảo vệ thì đất canh tác mới phát huy được tiềm năng của mình, góp phần tạo ra lương thực thực phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người.
Độ phì nhiêu của đất là khả năng của đất cung cấp cho cây trồng về nước, thức ăn, muối khoáng và các yếu tố cần thiết khác để cây trồng sinh trưởng và phát 8 triển bình thường. Độ phì của đất là đặc trưng cơ bản của đất, cho phép phân biệt đất với đá, là chỗ dựa cơ bản để đánh giá phân hạng đất. Độ phì của đất bao gồm các loại sau: - Độ phì nhiêu tự nhiên: Là độ phì nhiêu được hình thành dưới tác động của các yếu tố tự nhiên, chưa có tác động của con người. Độ phì nhiêu tự nhiên phụ thuộc vào thành phần, tính chất đất mẹ, khí hậu, chế độ nước, không khí và nhiệt độ, những quá trình sinh lý, hóa học, sinh vật tạo thành và tích lũy các chất dinh dưỡng cho thực vật thượng và hạ đẳng -Độ phì nhiêu nhân tạo: Là độ phì nhiêu được tạo ra do tác động của con người thông qua các hoạt động sản xuất tác động vào đất đai như cày xới, bón phân, cải tạo đất, thủy lợi tưới tiêu, áp dụng các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp.
Nó phản ánh khả năng cải tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đất đai. Độ phì nhiêu nhân tạo phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, vào trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng ứng dụng chúng vào việc khai thác, sử dụng đất cũng như mối quan hệ xã hội - Độ phì nhiêu kinh tế: Là độ phì nhiêu mang lại lợi ích kinh tế cụ thể. Đây là cơ sở để đánh giá kinh tế của đất đai. Đây là sự thống nhất giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu nhân tạo nhằm sử dụng có hiệu quả độ phì nhiêu của đất trồng * Phân loại đất đai Phân loại đất nông nghiệp Theo Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 [26], căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau: - Đất trồng cây hàng năm là loại đất dùng trồng các loại cây ngắn ngày, có chu kì sinh trưởng không quá 1 năm, gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; - Đất trồng cây lâu nămgồm đất dùng để trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng kéo dài trong nhiều năm, phải trải qua thời kỳ kiến thiết cơ bản mới đưa vào kinh doanh, trồng một lần nhưng thu hoạch trong nhiều năm 9 - Đất rừng sản xuấtlà diện tích đất được dùng để chuyên trồng các loại cây rừng với mục đích sản xuất - Đất rừng phòng hộ là diện tích đất để trồng rừng có mục đích phòng hộ - Đất rừng đặc dụng là diện tích đất được Nhà nước quy hoạch, đưa vào sử dụng với mục đích riêng - Đất nuôi trồng thủy sản - Đất làm muối là diện tích đất được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất muối.
- Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh. Phân loại đất canh tác [26] Dựa vào khả năng gieo trồng người ta phân đất canh tác thành: - Đất 4 vụ là loại đất có khả năng gieo trồng 4 vụ trong năm, loại đất này chủ yếu là đất chuyên màu. - Đất 3 vụ là đất gieo trồng được 3 vụ trong năm với các công thức 3 vụ lúa, 2 vụ lúa + 1 vụ màu,… - Đất 2 vụ có công thức luân canh như lúa - lúa, lúa - màu, màu - màu,… - Đất 1 vụ là đất mà trên đó chỉ trồng được 1 vụ lúa hay 1 vụ màu trong 1 năm. Phân loại đất theo giá trị dinh dưỡng: Căn cứ vào mức độ sinh lời của đất người ta phân loại đất theo hạng của đất đai.
Thông thường đất trồng cây hàng năm vào đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản chia thành 6 hạng đất, đất trồng cây lâu năm được chia thành 5 hạng. Phân loại đất theo tính chất thổ nhưỡng, nông hóa căn cứ vào nhiều tiêu thức: Căn cứ vào nguồn gốc đá mẹ - yếu tố hình thành nên kết cấu đất gồm đất feralit, đất 10 bazan…, vào thành phần cơ giới đất gồm đất cát, đất pha cát, đất thịt nhẹ, đất thịt trung bình, đất thịt nặng, đất sét…, theo hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất gồm đất nghèo, đất trung bình, đất giàu các chất đạm, lân, kali… Ngoài ra đất trồng cây hàng năm còn được phân chia thành các nhóm đất chuyên trồng lúa, đất chuyên trồng màu… b) Vai trò và đặc điểm của đất đai trong sản xuất nông nghiệp * Vai trò: Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, khác với các tư liệu sản xuất khác Các tư liệu sản xuất khác là sản phẩm của quá trình lao động, song đất đai lại là sản phẩm của tự nhiên. Đất đai có trước lao động và khi con người biết sản xuất, đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất. Nét khác biệt của tư liệu sản xuất khác trong quá trình sử dụng bị hao mòn đến một lúc nào đó bị thay thế bởi các tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật và thuận lợi hơn về mặt kinh tế.
Ngược lại, trong quá trình sử dụng, đất đai không những không hao mòn mà chất lượng ngày càng tăng lên nếu biết sử dụng hợp lý. Đất đai tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp với tư cách vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động. Đất đai là đối tượng lao động khi con người sử dụng công cụ sản xuất tác động vào đất đai làm cho đất đai thay đổi hình dạng, cấu trúc như cày, bừa, cuốc đập, làm luống… Quá trình đó làm tăng chất lượng của ruộng đất, tạo điều kiện thuận lợi để tăng năng suất cây trồng. Đất đai là tư liệu lao động khi con người sử dụng công cụ sản xuất tác động lên đất thông qua các thuộc tính lý, hóa học, sinh vật học và thuộc tính của đất để tác động lên cây trồng.
* Đặc điểm Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời là sản phẩm của con người. Đất đai là sản phẩm của tự nhiên hay nói cách khác con người không thể tạo ra đất đai. Từ khi con người tiến hành khai phá để đưa vào sử dụng để tạo ra sản phẩm 11 cho con người thì ruộng đất đã là kết tinh lao động của con người và trở thành sản phẩm của lao động.Vì vậy trong quá trình sử dụng cần phải bảo vệ, cải tạo, sử dụng một cách hợp lý. Số lượng có hạn nhưng khả năng tái tạo của đất đai không có giới hạn.
Đất đai có vị trí có định và có hạn về số lượng, vì nó là lớp bề mặt của Trái Đất. Đất đai có giới hạn về mặt số lượng với mỗi cơ sở kinh doanh, mỗi địa phương, mỗi quốc gia và biểu hiện ở phạm vi ranh giới. Trong nông nghiệp, sự giới hạn đó còn thể hiện ở khả năng khai hoang, thâm canh tăng vụ. Tuy nhiên xét về mặt chất lượng, đất đai có sức sản xuất không bị giới hạn thông qua các quá trình sử dụng hợp lý, tăng cường vốn đầu tư, sức lao động, đưa khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất đem lại sản phẩm ngày càng nhiều.
Chất lượng không đồng nhất và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng vùng. Chất lượng của đất đai phụ thuộc vào độ phì của đất. Độ phì của đất lại phụ thuộc vào nguồn gốc của đá mẹ và khả năng tái tạo đất đai của con người khi sử dụng. Những nhân tố trên không đồng nhất với nhau nếu xét trên toàn Trái Đất, trong mỗi quốc gia, mỗi địa phương và mỗi cơ sở kinh doanh.
Ngoài ra, sự biến động và sự khai thác của độ phì phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng. Vì vậy, sự biến đổi của chất lượng đất đai và khả năng khai thác chất lượng đất đai cũng tùy theo từng vùng. Khái niệm về hiệu quả và phương pháp xác định hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp * Khái niệm Hiệu quả kinh tế là một phạm trù đặc biệt quan trọng, nó thể hiện kết quả sản xuất trong mỗi đơn vị chi phí của các ngành sản xuất.