Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Vài nét về hoạt động nuôi cá Hoạt động nuôi cá là hoạt động kinh tế lâu đời trong nông nghiệp nhất là những vùng, những quốc gia có diện tích và điều kiện thuận lợi. Nuôi cá là một trong những chuyên ngành nhỏ hẹp, thu hút nhiều lao động. Có 3 loại hình nuôi cá: - Nuôi cá nước ngọt: Là hoạt động kinh tế khai thác con giống trong vùng nước ngọt tự nhiên, sản xuất giống nhân tạo và ương nuôi các loài cá (mà nơi sinh trưởng cuối cùng của chúng là trong nước ngọt) để chúng đạt tới kích cỡ thương phẩm.
Ở đây, nước ngọt được hiểu là môi trường nước có độ mặn thấp hơn 0,5%. Một số loại hình nuôi cá nước ngọt: + Nuôi cá ao hồ nhỏ: Các loài cá trắm, chép, trôi, mè, mè Vinh, trê lai, rô phi, tra, ba sa, … là những đối tượng nuôi ổn định trong nghề nuôi cá ao hồ nhỏ. Nguồn giống sinh sản nhân tạo hoàn toàn chủ động, năng suất bình quân đạt hơn 3 tấn/ha. Riêng cá tra nuôi trong ao (hầm) với những ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, có thể cho năng suất tới 300 tấn/ha mỗi năm.
Gần đây, một số loài mới nhập nuôi hoặc mới tạo ra như cá trôi Ấn Độ (rohu), mrigala, cá chép lai ba màu,. đang được phát triển nhanh. + Nuôi cá mặt nước lớn (nuôi trong hồ tự nhiên, hồ chứa): Hình thức nuôi lồng, bè trong sông, suối, hồ chứa rất phát triển với các đối tượng có giá trị kinh tế cao như cá tra, basa, rô phi, trắm cỏ, chép lai, trôi Ấn Độ, v. + Nuôi cá ruộng trũng và vùng ngập lũ: Được tiến hành theo mô hình nuôi cá-lúa luân canh hoặc xen canh.
Đây chính là hướng chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo ở nông xóm. Đối tượng nuôi chủ lực trong ruộng và vùng ngập lũ hiện nay là các loài cá nước ngọt. Phát triển nuôi cá trong ruộng trũng đã trở thành một hướng quan trọng để điều chỉnh cơ cấu canh tác, làm tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác, cải thiện điều kiện kinh tế nông nghiệp, nông xóm và nâng cao giá trị xuất khẩu [4]. - Nuôi cá nước lợ: Là hoạt động kinh tế ương, nuôi các loài cá trong vùng nước lợ cửa sông, ven biển.
Ở đây “nước lợ” được hiểu là môi trường có độ mặn dao động mạnh theo mùa. Đối tượng nuôi chủ yếu là một số loài cá như cá vược (chẽm), cá mú (song), cá chình. 5 Hình thức nuôi gồm chuyên canh một đối tượng và xen canh, luân canh giữa nhiều đối tượng hoặc nuôi trong rừng ngập mặn. Gần đây, mô hình nuôi hữu cơ (nuôi cá trong điều kiện gần như tự nhiên, không sử dụng hoá chất, kháng sinh, chất kích thích) bắt đầu được áp dụng và mở rộng ở Đồng bằng sông Cửu Long.
- Nuôi cá nước mặn. Nuôi cá nước mặn (nuôi biển): Là hoạt động kinh tế ương nuôi các loài cá mà nơi sinh trưởng cuối cùng của chúng là ở biển. Hình thức nuôi chủ yếu là lồng bè hoặc nuôi trên bãi triều. Đối tượng nuôi chính là các loại cá biển (cá mú, cá giò, cá hồng, cá cam…).
Như vậy để phát triển ngành cá thì không thể chỉ quan tâm đến khai thác truyền thống mà hiện nay và sau này cần tập trung các nguồn lực vào phát triển hai tiểu ngành nuôi trồng và chế biến. Đặc biệt ưu tiên phát triển nuôi trồng cá vì phát triển tiểu ngành này có ý nghĩa chiến lược trong quá trình phát triển ngành cá nói chung. Vai trò thực tiễn của hoạt động nuôi cá - Cung ứng thực phẩm, đáp ứng nhu cầu xã hội: Nuôi cá cung cấp những loại thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người, cung cấp thức ăn cho chăn nuôi. Các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng đã khẳng định hầu hết các loại cá đều là loại thực phẩm giàu đạm, dễ tiêu hoá, phù hợp với sinh lý dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi.
Càng ngày cá càng được tin tưởng như một loại thực phẩm ít gây bệnh tật và ít chịu ảnh hưởng của ô nhiễm hơn. Xét về thành phần dinh dưỡng cho thấy: so với các loại thịt, các loại thực phẩm là nuôi cá có chứa ít chất mỡ hơn, nhiều chất khoáng hơn nhưng chất đạm cũng khá cao. Ví dụ trong thịt bò, tỷ lệ tính theo phần trăm của đạm là 16,2 - 19,2%, của mỡ là 11 - 28%, chất khoáng là 0,8 - 1%, cũng tương tự như tỷ lệ nói trên trong cá quả có tỷ lệ là: 18,6%, 0,4% và 1,2%; ở cá chép là 17,8%, 5,9% và 1,4%. - Thúc đầy tăng trưởng kinh tế: Hoạt động nuôi cá đóng góp một phần không nhỏ trong tổng thu nhập của các hộ gia đình cũng như GDP của đất nước.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nghề nuôi cá được xem là một nghề quan trọng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt trong cơ cấu kinh tế ngành Nông - lâm - ngư nghiệp. Góp phần đa dạng hóa thêm cơ cấu các ngành này, thúc đẩy sự phát triển. - Phát triển ngành nuôi cá góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước: Với nhiều lợi thế đặc biệt về mặt nước, phát triển mạnh mẽ nghề nuôi cá nước ta sẽ góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung và kinh tế - xã hội nông xóm nói riêng.
Về mặt kinh tế, ở những địa phương thuộc duyên hải Trung bộ hoặc Tây 6 Nam bộ, phát triển nuôi cá là con đường làm giàu của các chủ trang trại nuôi trồng nuôi cá, các chủ tàu đánh cá. Ở các địa phương không có tiềm năng về biển, đặc biệt vùng nông xóm ngoại thành phát triển chăn nuôi thuỷ đặc sản là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông xóm cho hiệu quả cao. Về mặt xã hội, ở các vùng nghèo, vùng sâu, vùng cao, phát triển nuôi cá tại các ao, hồ, sông suối tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào. Việc sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm về cá tại chỗ ở các vùng này còn góp phần trực tiếp cải thiện dinh dưỡng bữa ăn, làm tăng sức khoẻ của người lớn và giảm suy dinh dưỡng trẻ em.
- Giải quyết việc làm và tăng thu nhập: Nghề nuôi cá đã giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận hộ gia đình nông xóm. Đặc điểm của hoạt động nuôi cá - Đối với việc nuôi cá thì đất đai và diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể nào thay thế được. Đất đai là tư liệu sản xuất song nó là tư liệu sản xuất đặc biệt khác với các tư liệu khác ở chỗ: Diện tích của chúng có giới hạn, vị trí của chúng cố định, sức sản xuất của chúng thì không giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý thì đất đai diện tích mặt nước không bị hao mòn đi mà còn tốt hơn, mặt khác, đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất do cấu tạo thổ nhưỡng, vị trí địa hình dẫn đến đất đai diện tích mặt nước giữa các vùng thường khác nhau. Chính vì vậy khi sử dụng đất đai diện tích mặt nước phải hết sức tiết kiệm, phải quản lý chặt chẽ cả 3 mặt pháp chế, kinh tế, kĩ thuật, chú trọng việc bảo vệ môi trường nước, thực hiện những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn mọi nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước.
Mặt khác, phải thường xuyên cải tạo nguồn nước, tăng nguồn dinh dưỡng cho các loại thuỷ sinh vật nhằm nâng cao năng suất sinh học của nguồn nước. Sử dụng nguồn nước một cách tiết kiệm, đặc biệt cần hạn chế chuyển đổi mục đích sử dụng các ao, hồ, các thùng đấu…sang đất xây dựng cơ bản hay mục đích khác. - Về trữ lượng, khó xác định một cách chính xác trữ lượng cá có trong một ao hồ hay ngư trường. Đặc biệt ở các vùng mặt nước rộng lớn, cá có thể di chuyển tự do trong vùng hoặc di cư từ vùng này sang vùng khác không phụ thuộc vào ranh giới hành chính.
- Cá sinh trưởng và phát triển chịu sự tác động nhiều của điều kiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy, địa hình thuỷ văn…Trong nghề cá cần tạo những điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cao của các loại cá như: Tạo dòng chảy bằng máy bơm, tạo ôxy bằng quạt sục nước. 7 - Các sản phẩm của cá sau khi thu hoạch hoặc đều rất dễ ươn thối, hư hỏng vì chúng đều là những sản phẩm sinh vật đã bị tách ra khỏi môi trường sống. Để tránh tổn thất trong sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và kinh doanh tiêu thụ sản phẩm; từ khai thác đến đầu tư tái tạo nguồn lợi, đầu tư cơ sở hạ tầng dịch vụ một cách đồng bộ. - Sản xuất kinh doanh cá đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao.
Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến cá đều đỏi hỏi đầu tư ban đầu vốn lớn. Trong hoạt động nuôi trồng, nếu không kể những hoạt động nuôi cá trong ao hồ có sẵn, nuôi cá ruộng, nuôi trồng ở sông, suối thì hầu hết các hoạt động đầu tư nuôi nuôi cá đều cần vốn lớn như: đào ao thả cá trên đất canh tác hiệu quả thấp được chuyển đổi mục đích sử dụng; đầu tư cải tạo đầm nuôi cá ở ven biển, cửa sông… Nhu cầu đầu tư vốn ban đầu tương đối lớn cho phát triển các hoạt động kinh tế như trên là vượt quá khà năng tự tích luỹ và đầu tư của từng chủ thể kinh tế trong lĩnh vực nuôi cá, đặc biệt là khả năng của các hộ. Do vậy, để phát triển nghề nuôi cá ở các hộ nông dân, nhà nước phải xây dựng và thực hiện chính sách cho vay vốn theo các chương trình phát triển riêng của từng ngành này như: cho vay trong chương trình đầu tư vốn ban đầu, tín dụng đầu tư xây dựng các cơ sở hậu cần dịch vụ nghề cá theo quy hoạch… - Sản xuất nuôi cá phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nhất là điều kiện thuỷ văn, bão lũ. Đối với nước ta có bờ biển dài, diễn biến bão lũ phức tạp đã gây thiệt hại nặng cho nghề nuôi trồng nuôi cá của cả một vùng hay một địa phương.
Trong nhiều trường hợp, thiên tai có thể gây thiệt hại lớn, khiến người dân trắng tay.