Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm lý thuyết Đề tài nghiên cứu thực hiện dựa trên quan điểm "Hệ thống", "Sinh thái nhân văn" và "Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng" để giải thích mối quan hệ giữa con người và các nguồn tài nguyên rừng và ĐDSH. Theo quan điểm hệ thống tài nguyên rừng và ĐDSH vừa là bộ phận của hệ thống tự nhiên vừa là một bộ phận của hệ thống kinh tế xã hội. Hệ sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu về mối quan hệ tương hỗ giữa con người và môi trường (Rambol, 1983).
Vận dụng quan điểm này để giải thích mối quan hệ giữa con người và TNTN, trong đó con người là một yếu tố quan trọng tạo nên hệ sinh thái nhân văn. Theo Gaia cho rằng trái đất là một hệ sinh thái khổng lồ, quần xã sinh học đóng vài trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì những điều kiện phù hợp cho sự sống (Laelock, 1988). Như vậy các thành phần trong hệ sinh thái có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội. Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, an ninh chính trị, quốc phòng và đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái.
Rừng là bộ phận của sinh quyển và đã từ lâu nó đã được xem như lá phổi xanh nhân loại. Tuy nhiên, có nhiều lý do, trong đó có tác động trực tiếp và gián tiếp của con nguời làm mất tài nguyên rừng đe doạ nghiêm trọng đến tính ĐDSH đồng thời dẫn đến suy thoái môi trường. Một thực trạng hiện nay ở Việt Nam là các cộng đồng cư dân sống ở trong và gần rừng có cuộc sống dựa vào rừng lại là những xã nghèo, dự báo số xã đặc biệt khó khăn sẽ tăng lên. Con người đã và đang khai thác quá mức các nguồn TNTN dẫn tới suy thoái các hệ sinh thái làm nghèo kiệt đa dạng sinh học, thậm chí huỷ diệt nguồn tài nguyên quý giá để đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày và đi ngược với xu thế phát triển của loài 3 người.
Vì vậy, việc khai thác và sử dụng nguồn TNTN có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân cũng như tới bảo tồn Đa dạng sinh học. Nhằm ngăn chặn tình trạng trên, trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên, không có con đường nào khác hiệu quả hơn bằng nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân tộc miền núi, cho toàn xã hội. Mọi người cần nhận thức đúng đắn về mối quan hệ gắn bó giữa các yếu tố văn hoá xã hội với TNTN, làm nền tảng góp phần vào việc sử dụng bền vững tài nguyên rừng và ĐDSH. Khi thế giới tự nhiên đạt được sự phồn thịnh thì cuộc sống của con người cũng được phồn thịnh và bền vững (Richard.
Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng là quản lý tài nguyên mà trong đó phát huy được năng lực nội sinh của cộng đồng cho hoạt động quản lý. Những giải pháp quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, của chính sách, luật pháp v. Trong khi các nước công nghiệp phát triển đề cao vai trò của cá nhân, thì các nước đang phát triển mà đặc biệt là ở vùng Châu á - Thái Bình Dương, gia đình và cộng đồng được đánh giá cao. Trong nhiều trường hợp, quản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng đã đem lại những hiệu quả to lớn cho phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
Don Gilmour và Fischer cho rằng quản lý rừng cộng đồng là các hoạt động kiểm soát và quản lý các nguồn tài nguyên rừng do người dân địa phương thực hiện, những người này sử dụng chúng cho các mục đích của cộng đồng và nó là một bộ phận hữu cơ của hệ thống canh tác. Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng có đặc điểm nhấn mạnh vào lợi ích của cộng đồng địa phương với mục đích là sử dụng bền vững tài nguyên rừng. Các khái niệm Trong đề tài đã đề cập đến các khái niệm đa dạng sinh học, cộng đồng, sự tham gia của cộng đồng và kiến thức bản địa, vùng đệm của VQG và KBT 1. Đa dạng sinh học Theo Công ước đa dạng sinh học năm 1992 thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống gồm các HST trên cạn, HST biển, các HST nước ngọt, và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận.
ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng hệ sinh thái. Nói cách khác ĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ hợp. Có thể coi ĐDSH là khái niệm bao hàm đa dạng HST (số lượng các loài trong quần xã), đa dạng loài và đa dạng di truyền (tức là sự phong phú về gen). Đa dạng HST là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh thái.
Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó. Đa dạng di truyền là tất cả các gen di truyền khác nhau của tất cả các cá thể thực vật, động vật, nấm, và vi sinh vật. Đa dạng di truyền tồn tại trong một loài và giữa các loài khác nhau. Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể.
Trong Luật ĐDSH của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, định nghĩa: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Gen là một đơn vi ḍ i truyền, một đoa ̣n của vât chất di truyền quy đi ̣nh các đă ̣c tính cụthể của sinh vât. Hệ sinh thái là quần xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vâ ṭ của một khu vực đi ạ lý nhất đinh, 5 có tác động qua lại và trao đổi vật chất với nhau. Hê ṣ inh thái tự nhiên là hê ̣sinh thái hình thành, phát triển theo quy luật tự nhiên, vẫn còn giữ được các nét hoang sơ.
Hê ṣ inh thái tự nhiên mới là hê ̣sinh thái mới hình thành và phát triển trên vùng bãi bồi tại cửa sông ven biển, vùng có phù sa bồi đắp và các vùng đất khác”. Ngoài ra ĐDSH còn được định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2005 như sau: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái”. Khái niệm về cộng đồng Thuật ngữ “cộng đồng” có thể được hiểu theo một số nghĩa. Về mặt địa lý, cộng đồng có thể được định nghĩa theo ranh giới nguồn lợi hoặc chính trị hoặc xã hội như một cộng đồng của những cá nhân cùng chung mối quan tâm.
Ví dụ, cộng đồng địa lý thường là một tổ chức chính trị làng xã (đơn vị hành chính địa lý thấp nhất); một cộng đồng xã hội có thể là một nhóm ngư dân sử dụng cùng loại dụng cụ đánh bắt giống nhau hoặc một tổ chức người dân tham gia quản lý rừng. Một cộng đồng không nhất thiết phải là một làng, và một làng không nhất thiết là một cộng đồng. Về mặt chăm sóc cũng không cho rằng một cộng đồng là một đơn vị đồng nhất, thường sẽ có các mối quan tâm khác nhau trong một cộng đồng, dựa trên giới tính, giai cấp, sự khác nhau về kinh tế và dân tộc. Gần đây, thuật ngữ “cộng đồng thực” hay “cộng đồng quyền lợi” đã được áp dụng cho các cộng đồng nghề rừng dựa trên yếu tố phi địa lý.
Tương tự như “cộng đồng xã hội”, đây là một nhóm người dân, những người mà trong khi không sống trong một cộng đồng địa lý đơn lẻ, sử dụng công cụ giống nhau hoặc mục tiêu quản lý rừng giống nhau hoặc cùng chung mối quan tâm trong một nghề rừng đặc trưng. Sự tham gia của cộng đồng Là việc một cộng đồng được tham gia tư vấn ý kiến, tỏ thái độ và mối quan tâm của họ về một kế hoạch phát triển, hay một quy hoạch, kế hoạch trong bảo tồn ĐDSH. Đó là cơ hội để người dân có thể bày tỏ ý kiến của mình và bằng cách đó họ có thể ảnh hưởng đến sự ra quyết định. Kiến thức bản địa Là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa, hoặc của một cộng đồng tại khu vực cụ thể nào đó.
Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng (người già, trẻ, đàn ông, phụ nữ) ở một vùng địa lý xác định (Louise G, 1998). Khái niệm vùng đệm, quản lý vùng đệm Theo Luật lâm nghiệp (2017) thì “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất, vùng mặt nước nằm sát ranh giới của khu rừng đặc dụng có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng”. Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên. VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng.
Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử dụng hợp lý lâm sản và các tài nguyên tự nhiên, các dịch vụ du lịch sinh thái để góp phần nâng cao thu nhập gắn sinh kế của người dân với các hoạt động của khu rừng đặc dụng. Cơ quan chính quyền Nhà nước trên địa bàn vùng đệm lập dự án đầu tư phát triển sản xuất và cơ sở hạ tầng nông thôn để ổn định cuộc sống cho cộng đồng dân cư, đồng thời thiết lập quy chế trách nhiệm của cộng đồng dân cư và từng hộ gia đình trong việc bảo vệ và bảo tồn khu rừng đặc dụng. Diện tích vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng. Quản lý vùng đệm được nhìn nhận như là một hành động can thiệp dài hạn nhằm đạt được tính bền vững về sinh thái, xã hội, tổ chức kinh tế.