Chương 1 và Chương 2, chương 3 sẽ trình bày các đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tại các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam hiện nay. Hơn nữa, Chương 3 còn đóng góp kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước về lộ trình tăng vốn theo Hiệp ước vốn Basel phù hợp với điều kiện và khả năng của các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam. 4 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO 1.
Khái niệm về rủi ro Rủi ro là những điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến. Vận may và rủi ro luôn gắn liền với thực tiễn đời sống và ước vọng của con người. Đây là hai mặt đối lập nhau nhưng thống nhất trong một thực thể. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, rủi ro là những vấn đề khách quan bên ngoài của chủ thể kinh doanh hoặc tiềm ẩn trong ch nh bản thân chủ thể, gây ra những khó khăn cho chủ thể trong quá trình thực hiện mục tiêu kinh doanh, tàn phá các thành quả đang có, bắt buộc các chủ thể phải tiêu tốn nguồn lực (tài lực và vật lực) nhiều hơn.
Theo quan điểm thông thường, rủi ro và cơ hội hay còn được gọi là may rủi, thường được cho là kết quả không dự đoán được, không kiểm soát được nên mang t nh bị động; nhưng hiện nay, trong kinh doanh hiện đại, rủi ro hay cơ hội thì con người c ng có thể nhận dạng được do nắm được t nh quy luật của yếu tố môi trường nên nó được nhìn nhận một cách khoa học hơn và con người có thể chủ động đối phó với rủi ro. Khái niệm và quá trình quản lý rủi ro: 1. Khái niệm về quản lý rủi ro: Như đã nêu ở trên, rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể kinh doanh không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, c ng như chi ph cơ hội của việc làm mất những cơ hội thị trường. Do đó, chấp nhận rủi ro và chủ động đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ch nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ch xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận là trung tâm của mọi hoạt động của doanh nghiệp.
5 Quản lý rủi ro là một quá trình bao gồm các hoạt động nhằm hạn chế, loại bỏ các rủi ro hoặc khắc phục các hậu quả mà rủi ro gây ra đối với hoạt động kinh doanh từ đó tạo điều kiện cho việc sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp, giảm đến mức thấp nhất các thiệt hại về nhân lực và tài ch nh của doanh nghiệp. Vai trò của quản lý rủi ro: - Nhận dạng rủi ro, chủ động phòng ngừa. - Thực hiện được mục tiêu, sứ mạng của doanh nghiệp qua việc lựa chọn chiến lược t rủi ro. - Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp.
Quy trình quản lý rủi ro Bƣớc 1: Nhận dạng rủi ro - Nhiệm vụ: xác định một danh sách các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của doanh nghiệp, sắp xếp, phân nhóm, chỉ ra các rủi ro đặc biệt nghiêm trọng. - Ý nghĩa: đây là là cơ sở để đánh giá, đo lường, đưa ra các giải pháp để khắc phục rủi ro. Bƣớc 2: Phân t ch và đánh giá - Nhiệm vụ: phân t ch các rủi ro, đánh giá mức độ thiệt hại c ng như xác suất xảy ra rủi ro nhằm có các giải pháp để phòng ngừa, loại bỏ hoặc hạn chế giảm thiệt hại. Bƣớc 3: Kiểm soát và tài trợ rủi ro - Kiểm soát: là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, chương trình hành động,… để né tránh, ngăn chặn, giảm nhẹ sự nghiêm trọng của những tổn thất.
+ Biện pháp né tránh rủi ro: Chủ động né tránh từ trước khi rủi ro xảy ra hoặc né tránh bằng cách loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro + Biện pháp ngăn ngừa tổn thất: Tập trung tác động vào ch nh mối nguy hiểm để ngăn ngừa tổn thất, v dụ: mua bảo hiểm, mở thư t n dụng 6 + Các biện pháp giảm thiểu tổn thất: (i) Cứu vớt tài sản còn sử dụng được; (ii) Chuyển nợ; v dụ: bồi thường bảo hiểm cho bên thứ 3; (iii) Xây dựng các kế hoạch phòng ngừa rủi ro; (iv) Lập quỹ dự phòng rủi ro; (v) Phân tán rủi ro + Chuyển giao rủi ro: (i)Chuyển tài sản hoặc hoạt động có rủi ro đến cho người khác, tổ chức khác; (ii) Hoặc, ký hợp đồng với người khác/tổ chức khác trong đó quy định chỉ chuyển giao rủi ro, không chuyển giao tài sản cho người nhận rủi ro. + Đa dạng hóa rủi ro: đa dạng thị trường, khách hàng,… - Tài trợ rủi ro: là hoạt động cung cấp những phương tiện đền bù tổn thất xảy ra hoặc tạo ra những quỹ cho các chương trình khác nhau để giảm bớt rủi ro. Có 2 biện pháp tài trợ: (i) Tự khắc phục rủi ro: tự mình thanh toán các tổn thất; (ii) Chuyển giao rủi ro: đối với các đối tượng, tài sản mua bảo hiểm thì khi xảy ra tổn thất việc đầu tiên là khiếu nại đòi bồi thường. RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1.
Các loại rủi ro phát sinh trong hoạt động ngân hàng Hoạt động kinh doanh dịch vụ ngành ngân hàng tiếm ẩn rất nhiều rủi ro, trong đó, các loại rủi ro chính có thể kể đến là: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động/ rủi ro tác nghiệp, rủi ro pháp luật, rủi ro hệ thống, rủi ro uy tín và các rủi ro khác Nội dung chi tiết về từng loại rủi ro và tác động của nó được nêu cụ thể sau đây: 1. Rủi ro tín dụng: Khái niệm rủi ro tín dụng Có rất nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng như sau: Theo Thomas P.Fitch: Rủi ro tín dụng là lọai rủi ro xảy ra khi người vay không thanh tóan được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong họat động cho vay của ngân hàng. 7 Theo Hennie van Greuning –Sonja B rajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng.
Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khỏan của ngân hàng. Từ các định nghĩa chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau: - Rủi ro tín dụng là rủi ro đối tác vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nó xảy ra khi người đi vay trễ hẹn hoặc tồi tệ hơn là không thanh tóan trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi phát sinh. - Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản.
Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau: - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá v2 phân t ch t n dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và các hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và các kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
8 - Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 2 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đăc điểm riêng có, mang tính tiêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Hậu quả của rủi ro tín dụng tới hoạt động của ngân hàng: - Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng Nếu một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu trên tổng nợ lớn, có những thông tin về việc ngân hàng không thu hồi được nợ hoặc ngân hàng đó bị ngân hàng nhà nước đưa vào diện kiểm soát đặc biệt thì uy tín của ngân hàng đó bị giảm sút một cách nghiêm trọng. - Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng Để có nguồn vốn đủ cung cấp tín dụng cho khách hàng thì ngân hàng phải huy động từ các tổ chức và dân cư hay nói cách khác là ngân hàng vay của tổ chức và dân cư để tài trợ tín dụng. Nếu rủi ro tín dụng do không thu hồi được nợ xảy ra, ngân hàng sẽ hạn chế nguồn để thanh toán tiền gửi cho chủ nợ tức là dân cư và các tổ chức kinh tế khác. - Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Theo quy định của ngân hàng nhà nước, tất cả các khoản nợ xấu ngân hàng đều phải trích dự phòng, tỷ lệ trích dự phòng tùy theo mức độ nợ xấu và tài sản đảm.