phần mở đầu, lời cam đoan, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: 6 Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ THƢƠNG MẠI TECCOM Chƣơng 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ THƢƠNG MẠI TECCOM 7 Chƣơng 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG 1. Một số vấn đề lý luận về kỷ luật lao động 1. Khái niệm, bản chất của kỷ luật lao động Về khái niệm Trong quá trình lao động chung của con ngƣời luôn đòi hỏi phải có trật tự, nề nếp để hƣớng hoạt động của từng ngƣời vào việc thực hiện kế hoạch chung và tạo ra kết quả đã định. Cái tạo ra trật tự, nề nếp trong quá trình lao động chung giữa một nhóm ngƣời hay trong một đơn vị đó là kỷ luật lao động.
Kỷ luật lao động là yêu cầu khách quan đối với tất cả các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức.hay rộng hơn là bất kỳ một xã hội, một nền sản xuất nào. Đặc biệt trong điều kiện sản xuất ngày càng phát triển, cùng với nó là trình độ phân công, tổ chức lao động trong xã hội ngày càng cao, vì vậy, kỷ luật lao động ngày càng trở nên quan trọng. Để tìm hiểu rõ về khái niệm cũng nhƣ bản chất của kỷ luật lao động là gì trƣớc hết cần tìm hiểu về khái niệm của “Kỷ luật” cũng nhƣ vấn đề “Kỷ luật trong quan hệ lao động”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam1, “Kỷ luật” đƣợc hiểu là chế độ làm việc đã được quy định và sự chấp hành nghiêm túc, đúng đắn của mỗi cấp, mỗi nhóm người, mỗi người trong quá trình lao động.
Tạo ra sự hài hoà trong hoạt động của tất cả các yếu tố sản xuất, liên kết mọi người vào một quá trình thống nhất. Theo Từ điển Tiếng Việt2 thì “Kỷ luật” có hai nghĩa: - Thứ nhất là tổng thể nói chung những điều quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức đó. Các tổ chức muốn xây dựng cho mình một trật tự, kỷ cƣơng làm việc tốt tất yếu phải đặt ra những quy định buộc mọi thành viên phải tuân theo. Các quy định càng chặt chẽ, khoa học và cụ thể thì tính kỷ luật càng cao, tổ chức đó càng có điều kiện phát triển ổn định, bền vững.
1 Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 2 (2002) , Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội, năm 2002 2 Từ điển Tiếng Việt (2005), Nxb Đà Nẵng, năm 2005 8 - Thứ hai là hình thức phạt đối với người vi phạm kỷ luật. Khi thành viên trong một tổ chức có hành vi vi phạm quy định đã đƣợc đặt ra thì tùy theo tính chất, mức độ thiệt hại và nguyên nhân của vi phạm, tổ chức đó có thể áp dụng một hình thức phạt nhất định đối với thành viên vi phạm của mình. Nhƣ vậy, dƣới góc độ chung nhất, kỷ luật đƣợc hiểu là những quy định, quy tắc, những trật tự mà con ngƣời phải tuân thủ khi tham gia vào hoạt động trong một tổ chức, một tập đoàn hay trong quan hệ với cộng đồng. Những quy tắc, trật tự này có thể đã đƣợc chuẩn hoá trong các văn bản pháp luật hoặc cũng có thể chỉ là những quy tắc mang tính chất đạo đức hoặc thậm chí có thể chỉ là những quy định mang tính chất nội bộ của một tổ chức.
Tuy nhiên, có điều đặc biệt là nó đều mang tính chất bắt buộc đối với hành vi của con ngƣời khi tham gia vào các hoạt động chung của xã hội, cộng đồng, tổ chức đó. Vì vậy, kỷ luật chính là phƣơng tiện để thống nhất hoạt động chung của con ngƣời với nhau nhằm đạt đƣợc những mục đích nhất định. Nói cách khác, kỷ luật là nhu cầu tất yếu của các hoạt động chung, các hoạt động mang tính tập thể. Khi đã có các hoạt động chung, hoạt động tập thể thì tất yếu phải có kỷ luật.
Trong lĩnh vực lao động, hoạt động lao động cũng là hoạt động có sự tham gia của nhiều ngƣời, hoạt động mang tính tập thể. Quan hệ lao động là một trong những quan hệ xã hội phổ biến trong xã hội ngày nay, phát sinh trong quá trình thuê mƣớn, sử dụng lao động, trả lƣơng giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, thể hiện quyền và nghĩa vụ giữa các cá nhân hay tập thể ngƣời lao động đối với ngƣời sử dụng lao động. Mặc dù quan hệ lao động đƣợc xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng, theo sự thỏa thuận giữa hai bên, nhƣng trong quan hệ lao động, ngƣời sử dụng lao động vẫn có sự quản lý đối với ngƣời lao động về mặt thời gian, công việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, đồng thời những điều khoản về nghĩa vụ và quyền lợi của ngƣời lao động đƣợc thể hiện thông qua nội dung hợp đồng lao động và nội quy lao động. Đồng thời, để đảm bảo quan hệ lao động, việc làm đƣợc thực hiện một cách hiệu quả, thống nhất và có trật tự thì bên cạnh việc quy định nội quy lao động tại nơi làm việc thì ngƣời sử dụng lao động cũng có quy định về các chế 9 tài áp dụng đối với việc vi phạm nội quy lao động và đƣợc thể hiện thông qua các hình thức kỷ luật lao động.
Kỷ luật lao động không phải là một thuật ngữ mới và cũng không phải là sản phẩm của xã hội hiện đại. Càng không phải đến khi có các hoạt động sản xuất công nghiệp, có sự chuyên môn hoá mới có kỷ luật và cần đến kỷ luật. Kỷ luật lao động xuất hiện từ rất sớm, từ khi con ngƣời biết lao động, có hoạt động chung với nhau. Tuy nhiên, ở thời kì sơ khai ban đầu (thời kì nguyên thủy), kỷ luật lao động chủ yếu dựa trên nền tảng đạo đức, ý thức tự giác là chủ yếu, chƣa có sự can thiệp của bất kì thế lực công quyền nào hoặc của giới nào.
Song khi xã hội phát triển, ngƣời ta nhận thấy rằng phải liên kết hoạt động lao động với nhau ở phạm vi rộng hơn mới có thể nâng cao đƣợc hiệu quả của sản xuất. Bởi vậy, một số ngƣời nắm trong tay tƣ liệu sản xuất đã tiến hành thành lập các nhà máy, công xƣởng, bến cảng nhằm huy động và sử dụng một số lƣợng lớn những ngƣời lao động. Do đó, môi trƣờng lao động bây giờ không còn hạn hẹp với sự tham gia của một vài ngƣời hoặc một nhóm ngƣời lao động nữa mà có sự tham gia của hàng trăm, hàng ngàn ngƣời lao động và mang tính chất hợp tác. Các Mác đã nhận xét: “Nhiều người làm việc bên cạnh nhau một cách có kế hoạch và trong sự tác động qua lại lẫn nhau trong một quá trình sản xuất nào đó hoặc là trong những quá trình sản xuất khác nhau nhưng lại liên hệ với nhau thì lao động của họ mang tính hiệp tác ”3.
Nhƣ vậy, ở đâu có sự hợp tác thì ở đó cần có sự quản lí, cần có kỷ luật lao động chất lƣợng và hiệu quả. Để làm đƣợc điều đó, đòi hỏi những ngƣời tham gia lao động phải tuân theo những trật tự chung, những quy tắc chung nhất định. Nhƣ vậy, dƣới góc độ chung nhất (theo nghĩa rộng), kỷ luật lao động đƣợc hiểu là trật tự nền nếp mà người lao động phải tuân thủ khi tham gia quan hệ lao động. Đó là những quy tắc quy định hành vi cá nhân của ngƣời lao động mà đơn vị sử dụng lao động xây dựng dựa trên cơ sở pháp luật hiện hành, chuẩn mực đạo đức xã hội và yêu cầu đặc thù của hoạt động sản xuất, kinh doanh 3 Các Mác, Tƣ bản (1960), quyển thứ nhất, tập 2, Nxb Sự thật, năm 1960 10 nhằm tạo ra một khuôn khổ, trật tự làm việc nhất định buộc mọi ngƣời phải tuân theo trên tinh thần hợp tác và nếu có sự vi phạm thì sẽ phải gánh chịu hình thức kỷ luật tƣơng ứng.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng lao động, ngƣời sử dụng lao động có quyền thiết lập, duy trì kỷ luật lao động, có quyền quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của ngƣời lao động đối với đơn vị; còn ngƣời lao động có nghĩa vụ phải chấp hành. Trƣờng hợp ngƣời lao động không chấp hành hoặc không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ đƣợc giao, họ sẽ phải chịu hình thức xử lí kỷ luật tƣơng ứng. Pháp luật cho phép ngƣời sử dụng lao động có quyền xử lí kỷ luật đối với ngƣời lao động trong những trƣờng hợp này. Vì vậy, dưới góc độ pháp lí với tư cách là chế định của Luật lao động, kỷ luật lao động được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức cũng như các biện pháp xử lí đổi với những người không chấp hành hoặc không chấp hành đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ đó.
Nhƣ vậy, từ quá trình phân tích trên chúng ta có thể đƣa ra khái niệm về kỷ luật lao động nhƣ sau: Kỷ luật lao động là những tiêu chuẩn quy định hành vi cá nhân của người lao động dựa trên ý chí của người sử dụng lao động và pháp luật hiện hành, người lao động có nghĩa vụ phải tuân thủ, nếu có vi phạm xảy ra người lao động phải chịu trách nhiệm trước người sử dụng lao động về hành vi vi phạm của mình4. Về bản chất Trong khoa học pháp lí, ngƣời ta rất ít khi bàn đến bản chất pháp lí của kỷ luật lao động, bởi hầu hết đều cho rằng việc thiết lập kỷ luật lao động trong đơn vị cũng nhƣ xử lí vi phạm kỷ luật là quyền của chủ sử dụng lao động (gọi chung là quyền kỷ luật lao động của ngƣời sử dụng lao động). Đây là một nội dung thuộc quyền quản lí lao động của ngƣời sử dụng lao động.