MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là quốc gia đang trên đà phát triển với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tương đối ổn định. Từ một đất nước nghèo, chỉ trong vài chục năm, Việt Nam đã vươn lên thành quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Kinh tế tăng trưởng nhanh, công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế được đẩy mạnh.
Chất lượng sống của người dân được cải thiện rõ rệt. Chính trị, xã hội bình ổn, quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế của Việt Nam không ngừng tăng cao trên trường quốc tế. Tiềm lực tổng hợp của quốc gia tăng lên rất nhiều, tạo vị thế và năng lực mới cho đất nước tiếp tục phát triển với triển vọng tốt đẹp.
Trong gần 35 năm qua, đồng hành trong công cuộc đổi mới đất nước, là một trong những trụ cột của nền kinh tế, ngành dầu khí Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ, đóng góp cho Ngân sách nhà nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ qua đó góp phần đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng và kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình trên thế giới. Hoạt động thăm dòkhai thác dầu khí ở thềm lục địa cũng đã góp phần quan trọng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Năm 2020, doanh thu các doanh nghiệp kinh doanh dầu khí đạt trên 566.000 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 17.500 tỷ đồng; trong khi khối doanh nghiệp đóng góp khoảng 42% GDP, thì các DN kinh doanh dầu khí chiếm khoảng 20% GDP của cả nước, hoàn thành nộp ngân sách nhà nước 82.100 tỷ đồngchiếm13,6%, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP cả nước. Trong bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới từ đầu năm đến nay, khiến nhiều ngành sản xuất trên toàn cầu lâm vào tình cảnh khốn đốn, hoạt động giao thông vận tải đình trệ, giá dầu thế giới giảm mạnh kéo dài, đặt ngành dầu khí Việt Nam đứng trước những thách thức chưa từng có trong lịch sử phát triển.
Những tháng đầu năm 2020 thực sự là quãng luan an 2 thời gian đầy khó khăn đối với ngành dầu khí Việt Nam. Sự lây lan mạnh mẽ của dịch bệnh Covid-19 dẫn tới sự sụt giảm mạnh các hoạt động vận tải, lưu thông hàng hóa và hành khách ở tất cả các loại hình đường bộ, hàng không., khiến cho hoạt động sản xuất và kinh doanh xăng dầu chịu ảnh hưởng nặng nề. Theo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), tổng nhu cầu tiêu thụ xăng, dầu trong cả nước Quý I/2020 ước giảm khoảng 30% so cùng kỳ năm trước. Do gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, nhiều cửa hàng, đại lý xăng dầu trong nước, đã hạn chế nhập hàng để chờ giá giảm, chiết khấu bán lẻ trên thị trường.
Điều này đã làm lượng tồn kho các sản phẩm xăng, dầu tại các nhà máy lọc dầu tăng mạnh. Nhằm giảm thiểu thiệt hại trước “khủng hoảng kép”, các doanh nghiệp dầu khí Việt Nam đã nhanh chóng có những biện pháp ứng phó, điều chỉnh chiến lược kinh doanh. Triển khai đồng bộ các gói giải pháp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trong từng lĩnh vực hoạt động về: Quản trị, đầu tư, tài chính, thị trường và cơ chế chính sách; tính toán phương án mua dự trữ dầu thô, sản phẩm xăng dầu nhằm tranh thủ cơ hội giá dầu chạm đáy làm động lực tăng trưởng khi thị trường ấm trở lại, đồng thời cắt giảm chi phí và sản xuất ở một mức độ có thể vừa đáp ứng được nhu cầu vừa giảm tối thiểu được số lỗ. Trong quá trình điều hành doanh nghiệp (DN), các nhà quản trị (NQT) phải trao đổi, cập nhật thông tin kế toán.
NQT sau khi lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kế hoạch đòi hỏi phải kiểm tra và đánh giá thực hiện nó. Phương pháp thường dùng là so sánh số liệu kế hoạch hoặc dự toán với số liệu thực hiện, để từ đó nhận diện các sai lệch giữa kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra. Để làm được điều này, NQT cần được cung cấp các báo cáo thực hiện, có tác dụng như một bước phản hồi giúp NQT nhận diện những vấn đề cần phải điều chỉnh.Hơn nữa, để đánh giá hiệu quả hoạt động các NQT còn đòi hỏi thông tin kế toán phải đầy đủ, kịp thời, chính xác nhằm thực hiện tốt các chức năng và hoạt động quản trị của mình. Như vậy, KTQT có vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ hoạt động kinh doanh của DN.
Dựa trên các thông tin của KTQT cung cấp, các NQT đưa ra quyết định kinh doanh phù hợp trong ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của DN trong nền kinh tế thị trường. luan an 3 Thực tế hiện nay tại các doanh nghiệp kinh doanh dầu khí niêm yết ở Việt Nam, KTQT phục vụ công tác quản lý nói chung và phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động nói riêng vẫn còn rất nhiều tồn tại cần hoàn thiện. Trước hết là nhận thức của những người làm công tác quản lý về vai trò của KTQT cũng như mối quan hệ giữa KTQT với việc đánh giá hiệu quả hoạt động chưa được thỏa mãn, KTQT vẫn bị coi nhẹ. Mặt khác, hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giá HQHĐ do KTQT cung cấp chưa phản ánh đúng thực trạng hiệu quả hoạt động tại đơn vị.
Bên cạnh đó, phương pháp sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động chủ yếu là so sánh giản đơn. Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị với việc đánh giá hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp kinh doanh dầu khí niêm yết ở Việt Nam” cho luận án tiến sĩ của mình. Tổng quan các đề tài đã nghiên cứu có liên quan 2. Các nghiên cứu về kế toán quản trị Kế toán quản trị là lĩnh vực chuyên môn của kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng, đặc biệt thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Qua đó phục vụ công tác quản trị nội bộ và ra quyết định quản trị. Thông tin của kế toán quản trị đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của doanh nghiệp. Đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá doanh nghiệp đó. Bản chất của thông tin trong kế toán quản trị là thông tin quản lý.
Thông tin mà kế toán quản trị cần nắm bắt bao gồm cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Trước khi tập hợp thông tin kế toán quản trị phải biết rõ mục đích của thông tin đó. Vai trò trách nhiệm truyền thống của kế toán quản trị đang được mở rộng bao hàm cả các nhu cầu đối với quá trình ra quyết định chiến lược kinh doanh. Kế toán quản trị đưa ra tất cả các thông tin kinh tế đã được đo lường xử lý và cung cấp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác kế toán quản trị giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp cân nhắc và quyết định lựa chọn một trong những phương án có hiệu quả kinh tế cao nhất: phải sản xuất những sản phẩm nào, sản xuất bằng cách nào, bán các sản phẩm đó bằng cách nào, theo giá nào, làm thế nào để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và phát triển khả năng sản xuất.
Cùng với sự phát triển của KTQT, có nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng KTQT trong các DN. Luận án đã phân tích và đưa ra điểm xuất phát để tổ chức hệ thống KTQT và xây dựng hệ thống báo cáo KTQT trong các DN nhằm thực hiện hai chức năng cơ bản của báo cáo KTQT là chức năng định hướng và chức năng đánh giá tình hình thực hiện tiêu chuẩn kiểm soát. Luận án đã nghiên cứu thực trạng của hệ thống báo cáo KTQT qua hai thời kỳ là kế hoạch hóa tập trung và thời kỳ quản lý DN theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đồng thời trình bày mục đích, nội dung, kết cấu, tác dụng và phương pháp lập báo cáo KTQT để thực hiện hai chức năng cơ bản của báo cáo KTQT. Huỳnh Lợi (2008) trong nghiên cứu “Xây dựng kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam” đã xây dựng mô hình và cơ chế vận hành KTQT trong DN sản xuất nhằm xác lập nền tảng hoạt động, nền tảng quản trị, đối tượng nghiên cứu của KTQT.
Luận án trình bày tổ chức quy trình công việc, thủ tục lập báo cáo KTQT, xác lập cơ chế tổ chức nhân sự thực hiện KTQT để tổ chức áp dụng KTQT phù hợp với đặc điểm sản xuất của DN [13]. Khi tiếp cận các nội dung của kế toán quản trị chi phí theo chức năng thông tin thì các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra được các nội dung cụ thể của kế toán quản trị chi phí cần thực hiện để thu nhận, phân tích và xử lý các thông tin chi phí trong doanh nghiệp cho mục đích cung cấp thông tin để quản trị doanh nghiệp như: nghiên cứu của Tác giả Nguyễn Hoản (2012) trong luận án “Tổ chức kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo của Việt Nam”[10], luận án đã nêu được các nội dung cụ thể mà kế toán quản trị chi phí cần thực hiện bao gồm: Ghi nhận ban đầu về chi phí; Phân loại chi phí; Xây dựng định mức, dự toán chi phí; Phương pháp xác định chi phí; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng, lợi nhuận; Tổ chức kế toán trách nhiệm chi phí; Xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí; Đánh giá hiệu quả hoạt động và phân tích thông tin ra quyết định.