Mở đầu của qúa trình sản xuất, vốn kinh doanh mang hình thái tiền tệ (vốn tiền tệ). Sau đó doanh nghiệp dùng tiền để đầu tư, mua sắm tư liệu lao động, đối tượng lao động, thuê sức lao động để phục vụ cho quá trình sản xuất. Lúc này vốn đầu tư từ hình thái tiền tệ trở thành hình thái các yếu tố của quá trình sản xuất (vốn sản xuất). Quá trình sản xuất được tiễn hành, tạo ra sản phẩm hàng hóa và vốn tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa (vốn hàng hoá).
Cuối cùng, khi tiêu thụ hàng hóa xong, vốn kinh doanh lại từ trạng thái vốn hàng hóa chuyển sang hình vốn thái tiền tệ tức trở về hình thái ban đầu nhưng với giá trị tăng lên. Trong quá trình vận động, vốn có thé thay đôi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng phải là giá trị (T>T). Song nếu tiền vận động không quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn thì đồng vốn cũng không có hiệu quả. Điều đó sẽ ảnh hưởng đến chu kỳ vận động tiếp theo của vốn.
Vậy trong qúa trình vận động tuần hoàn thì vốn phải được bảo toàn giá trị và lớn lên. Ngoài ra, tùy đặc điểm của mỗi loại hình doanh nghiệp mà phương thức vận động của vốn không giống nhau. Với doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ vốn vận động theo công thức (T - T'). Với doanh nghiệp thương mại dịch vụ, sư vận động của vốn được thé hiện qua phương thức: T - H - T.
Nhờ có sự vận động đó, vốn mới có khả năng bảo toàn giá trị và lớn lên về lượng. Từ những phân tích trên, chúng ta có thẻ đi đến định nghĩa tổng quát về vốn: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục dich sinh lời” [3, tr. Hiệu quả huy động von kinh doanh Hiệu quả huy động vốn là khái niệm phản ánh trình độ và khả năng dam bảo thực hiện công tác huy động vốn có kết quả cao với chi phí nhỏ nhất. Có nghĩa, về mặt lượng hiệu quả huy động vốn được biểu hiện giữa kết quả thu được (về số lượng, thời han.vén vận động sinh lời) và chi phí thực hiện quá trình đó.
Còn về mat chát, nó phản ánh năng lực và trình độ quản lý vốn nhằm đảm bảo vốn có khả năng vận động sinh lời với tốc độ nhanh. Tuy nhiên, ong xã hội có những quan điểm khác: họ huy động được sé lượng vốn cao, đúng thời hạn mong muốn thì họ coi là đạt hiệu quả hay cho rằng huy động vốn với chi phí càng thấp thì càng hiệu quả. Những quan điểm đó chỉ nhấn mạnh một hoặc vài khía cạnh nào đó sự vận động của vốn nên còn phiến diện. Vậy, theo quan điểm của tác giả thì: hiệu quả huy động vốn là thực hiện công tác huy động vốn đạt kết quả cao về khối lượng, đúng thời gian dự kiến và với chỉ phí nhỏ nhất.
Tổng công ty tài chính và tập đoàn kinh doanh 1. Tổng quan về tập đoàn kinh doanh 1. Khái quát về sự hình thành, phát triển các Tập đoàn kinh doanh trên thế giới và đặc điểm của chúng Tập đoàn kinh doanh (TDKD) đã ra đời, tồn tại và phát triển từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới. Theo tạp chí Fortune của Mỹ thì đến năm 1879, ở Mỹ đã xuất hiện hàng loạt các công ty có số vốn lớn trên 1 triệu USD như Standart Oil,Rockefeller, Aromouvar.
ở Nhật Bản, từ năm 1885 Chính phủ đã khuyến khích thành lập nhiều công ty cô phần có quy mô lớn nhằm khắc phục nguồn vốn hạn chế của các cá nhân. Quá trình tích tụ, tập trung sản xuất và vốn phát triển mạnh vào những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai đã tạo ra một làn sóng hợp nhất chưa từng có dé hình thành các TĐKD lớn. Đó là các hình thức tô chức độc quyền mới: Congxoocxiom, Conson, Congơlơmerat, hoạt động trong các ngành, các lĩnh vực then chốt có lợi nhuận cao, đó là các TDKD bao gồm hàng trăm, hàng nghìn công ty nhỏ và liên kết với nhau và phụ thuộc vào công ty mẹ về chiến lược phát triển, tài chính, công nghệ kỹ thuật, thị trường. Quy mô và phạm vi hoạt động của các TDKD đã vượt ra ngoài biên giới mỗi nước hình thành những tô chức kinh doanh quốc tế, các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia.
Việc hình thành và phát triển có hiệu quả các TDKD làm cho TDKD trở thành những trung tâm thu hút, thâu tóm hàng loạt những công ty xung quanh làm cho các TDKD ngày càng trở lên hùng mạnh, có sức sống mãnh liệt và phát triển không ngừng. Các TDKD được hình thành và liên tục phát triển bởi nó phù hợp với các quy luật khách quan và xu thế của thời đại, đó là: Quy luật tích tụ và tập trung vốn: Dé tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải nâng cao năng lực cạnh tranh và không ngừng mở rộng sản xuất, đó cũng là quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất thông qua việc doanh nghiệp tích lũy vốn từ lợi nhuận, đi vay, liên kết, phát hành cổ phiếu.hoặc doanh nghiệp mạnh, lớn thôn tinh, sáp nhập, mua lại các doanh nghiệp yếu và nhỏ hơn, từ đó dẫn đến việc hình thành các TDKD. Quy luật cạnh tranh, liên kết và toi da hóa lợi nhuận: cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường. Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp thường dẫn đến hai xu hướng: Các doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh sẽ thôn tính, sáp nhập, mua lại các doanh nghiệp bị đánh bại dẫn đến việc tập trung hóa sản xuất và hình thành doanh nghiệp lớn; nếu quá trình cạnh tranh mà không phân thắng bại thì trong số các doanh nghiệp đó sẽ có sự liên kết, thoả hiệp, sáp nhập nhằm tăng khả năng cạnh tranh dé hình thành doanh nghiệp lớn.
Như vậy, TDKD ra đời, phát triển là sản phẩm tất yếu của quá trình cạnh tranh, liên kết nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Tiến bộ khoa học công nghệ: Một trong những yếu tô quyết định giúp các doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh và thu được lợi nhuận cao là nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD). Khoa học công nghệ là động lực, là nhân tố quyết định chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh trong nén kinh tế thị trường. Ngày nay, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mé, chu kỳ thay đổi công nghệ ngày càng ngắn, hao mòn vô hình của công nghệ càng lớn, tỷ suất khẩu hao cao thì dé đổi mới công nghệ, nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm công nghệ cao đòi hỏi các doanh nghiệp phải có lượng vốn lớn, một lực lượng cán bộ khoa học công nghệ đủ mạnh, điều này thì chỉ có các doanh nghiệp lớn mới mới có khả năng thực hiện được.
TDKD là loại hình doanh nghiệp có khả năng đáp ứng yêu cầu đó. Xu thế toàn câu hoá: Trong nền kinh tế thị trường hội nhập, thị trường tiêu thụ hàng hoá và các nguồn lực sản xuất trong phạm vi một quốc gia trở nên nhỏ bé và hạn hẹp, đòi hỏi mỗi quốc gia, doanh nghiệp phải mở rộng không gian vượt khỏi lãnh thổ biên giới hình thành quan hệ kinh tế quốc tế. Toàn cầu hóa kinh tế là xu hướng tất yếu khách quan lôi cuốn mọi nước không ké trình độ phát triển như thé nào, nó bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đây quan hệ hợp tác dé cùng phát triển vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Các TDKT, công ty xuyên quốc gia mở rộng hoạt động bằng việc tạo thành những công ty liên doanh, liên kết nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động đổi dào ở các nước, kết hợp với thương quyền khai thác và chia sẻ thị trường để cùng tồn tại, tăng trưởng và phát triển.
TDKD là một hình thức tổ chức liên kết kinh tế tiên tiến, đại diện cho trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế thị trường, đóng vai trò quan trọng và chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế của nhiều nước ở khu vực, thé giới. Chúng ta có thé hoàn toàn đồng tình khi đưa ra cách hiểu về TDKD của tác giả Hồ Kỳ Minh như sau: “TDKD là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hoặc nhiều ngành khác nhau, trong phạm vi một nước hoặc nhiều nước;trong đó có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển; TDKD là một cơ cau tô chức vừa có chức năng kinh doanh vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tôi đa hóa lợi nhuận. Các TĐKD thường có những đặc điểm riêng, đó là: - Có quy mô rất lớn về vốn, doanh thu, lao động và thị trường. Vôn trong TDKD được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, có quy mô lớn do qúa trình tích tụ và tập trung được đây nhanh, giúp tập đoàn có khả năng đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó chi phối và tăng sức cạnh tranh trên thị trường dé đạt doanh thu lớn.
Bên cạnh đó, do sử dụng nhiều đồng tiền khác nhau trong thanh toán nên cơ chế quản lý tài chính của các tập đoàn được vận hành linh hoạt, thuận tiện. - TDKD có phạm vi hoạt động rộng, TDKD hoạt động không chỉ phạm vi quốc gia mà vượt khỏi biên giới một quốc gia, trải rộng trên một vùng lãnh thé rộng lớn của nhiều quốc gia, hoạt động trên toàn cầu. Phạm vi hoạt động xuyên quốc gia cho phép các tập đoàn khai thác triệt dé lợi thé so sánh ở từng khu vực dé tăng khả năng cạnh tranh, tối ưu hóa lợi nhuận; vượt qua hàng rào bảo hộ mậu dịch của mỗi quốc gia dé xâm nhập, mở rộng khả năng tiêu thụ ở các thị trường mới. - TĐKD là một tổ hợp các công ty, bao gồm công ty mẹ và các công ty con, công ty cháu.
phần lớn mang họ của công ty mẹ.