phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thƣơng chi nhánh Phú Mỹ Hƣng Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thƣơng chi nhánh Phú Mỹ Hƣng 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN 1. Khái niệm vốn huy động Vốn huy động là tài sản thuộc chủ sở hữu khác nhau. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn.
[2, tr 90-98] Vốn huy động có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM. Nó cũng là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Thông thƣờng vốn huy động chiếm tỷ trọng trên 90% tổng nguồn vốn. Do đó hoạt động huy động vốn của ngân hàng càng hiệu quả thì tổng nguồn vốn của ngân hàng sẽ tăng, là tiền đề để tiến hành hoạt động sử dụng vốn.
Đặc điểm vốn huy động Để có cái nhìn cụ thể hơn về vốn huy động PGS. Nguyễn Đăng Dờn có nêu những đặc điểm của vốn huy động nhƣ sau: [2, tr 90-98] - Vốn huy động trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn của NHTM. Các NHTM hoạt động đƣợc chủ yếu là nhờ vào nguồn vốn này. - Vốn huy động, về mặt lý thuyết là một nguồn vốn không ổn định vì khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc – vì đặc điểm này mà các NHTM phải duy trì một khoản “dự trữ thanh khoản” để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng.
- Có chi phí sử dụng vốn tƣơng đối cao và chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh của NHTM. - Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng. - Vốn huy động chỉ đƣợc sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các ngân hàng không đƣợc sử dụng nguồn vốn này để đầu tƣ. Vai trò của vốn huy động Vốn huy động không những chỉ có tầm quan trọng đối với ngân hàng thƣơng mại (chiếm phần lớn trong vốn để kinh doanh) mà nó còn có vai trò và ảnh hƣởng rất lớn đến khách hàng, ngƣời tham gia gửi tiền tại ngân hàng thƣơng mại và đối với nền kinh tế.1 Đối với ngân hàng thương mại Vốn huy động là nguồn lực chính để ngân hàng tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh của mình.
Bởi vì nó không chỉ lớn về quy mô mà còn đa dạng về thời hạn và so với các nguồn vốn khác thì nó có nhiều ƣu điểm hơn hẳn. Xét về vốn tự có của ngân hàng, ta thấy nó chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với nhu cầu kinh doanh của ngân hàng. Hơn nữa việc tăng vốn tự có là không dễ vì vốn tự có đƣợc hình thành chủ yếu từ lợi nhuận và đóng góp của chủ sở hữu. Với các NHTM cổ phần thì có thể phát hành cổ phiếu để tăng vốn nhƣng lại đối mặt với nguy cơ giảm cổ tức của cổ đông do hiệu ứng pha loãng.
Xét về vốn vay từ NHTW và các NHTM khác thì chỉ đáp ứng đƣợc một lƣợng vốn nhỏ, bị giới hạn về cả quy mô và thời hạn, chịu ràng buộc về các quy định của NHNN, và đây chỉ là nguồn vốn vay nhằm giải quyết tạm thời thiếu hụt vốn khả dụng trong thời gian ngắn chứ không thể đáp ứng nhu cầu vốn về kinh doanh của ngân hàng. Về hiệu quả kinh doanh, vốn huy động là nguồn vốn có chi phí rẻ nhất trong các loại vốn. Vốn tự có xét về mặt kế toán thì không chịu chi phí nhƣng về mặt quản trị thì lại có chi phí cao nhất, chi phí vốn tự có chính là lợi nhuận của ngân hàng. So với vốn đi vay thì chi phí tính trên 1 đồng vốn vay với thời hạn tƣơng ứng cao hơn nguồn vốn huy động.
Đối với khách hàng Đối với khách hàng là ngƣời gửi tiền thì thông qua công tác huy động vốn, các tổ chức kinh tế cũng nhƣ ngƣời dân sẽ thu đƣợc lợi ích từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình thông qua lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa, ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện ích. 5 Đối với khách hàng là ngƣời vay, họ sẽ thỏa mãn đƣợc nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp. Đối với nền kinh tế Vốn huy động còn có ý nghĩa to lớn với nền kinh tế, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất đƣợc thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất.
NHTM thông qua hoạt động huy động vốn đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Các hình thức huy động vốn của NHTM theo Luật Tổ chức tín dụng 2010. Huy động tiền gửi Huy động tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi thanh toán: là các khoản tiền gửi không kỳ hạn, trƣớc hết đƣợc sử dụng để tiến hành thanh toán chi trả cho các hoạt động hàng hóa dịch vụ và các khoản phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thƣờng xuyên, an toàn và thuận lợi. Tiền gửi thanh toán thƣờng đƣợc quản lý tại ngân hàng trên tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai.
Huy động tiền gửi có kỳ hạn Đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận trƣớc giữa khách hàng và ngân hàng về thời hạn gửi và rút tiền. Đại bộ phận tiền gửi này có nguồn gốc từ tích lũy và ký thác để hƣởng lãi. Các NHTM nhận hai loại tiền gửi có kỳ hạn đó là tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút. Đây là nguồn tiền tƣơng đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn để kinh doanh.
Chính vì vậy, NHTM luôn tìm cách để đa dạng hóa loại tiền này nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút bất cứ lúc nào, song không đƣợc sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho ngƣời khác. Đối với khoản tiền này, chủ tài khoản có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào mà không phải báo 6 trƣớc. Tuy nhiên, số dƣ tài khoản này thƣờng không lớn, nhƣng có ƣu điểm hơn so với tài khoản tiền gửi giao dịch ở chỗ: Số dƣ này ít biến động.
Vì vậy, ngân hàng trả lãi suất cho khoản tiền này cao hơn so với tiền gửi thanh toán. Đó là điều kiện để các NHTM có thể dễ dàng huy động số vốn này. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thỏa thuận về thời hạn và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn tiền gửi không kỳ hạn. Và lãi suất tỷ lệ thuận với độ dài kỳ hạn, những khoản gửi càng lâu thì lãi suất càng cao.
Phát hành các công cụ nợ Các NHTM có thể phát hành các công cụ nợ (nếu đủ điều kiện theo quy định) nhƣ: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn trong một thời gian nhất định. Chứng chỉ tiền gửi là giấy xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng hay một định chế tài chính khác. Ngƣời sở hữu giấy này sẽ đƣợc thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ vốn khi hết hạn. Chứng chỉ sau khi phát hành đƣợc lƣu thông trên thị trƣờng tiền tệ.
Các ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi chủ yếu cho mục đích thanh khoản. Các chứng chỉ này thƣờng không thuộc loại trái phiếu chiết khấu, lãi suất của chúng thƣờng cao hơn lãi suất của tín phiếu kho bạc và mức độ rủi ro của nó cũng thấp. Kỳ phiếu ngân hàng là một công cụ nợ ngắn hạn do ngân hàng phát hành theo từng đợt để huy động vốn một cách linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng. Việc phát hành kỳ phiếu tùy thuộc theo thời gian và tình hình cụ thể của vốn ngân hàng.
Trái phiếu ngân hàng là một công cụ nợ dài hạn của ngân hàng, với các cam kết thanh toán gốc vào ngày đáo hạn và thanh toán vào những thời gian xác định. Lãi suất của trái phiếu thƣờng cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu. Trái phiếu dùng để huy động vốn trung dài hạn phục vụ cho những kế hoạch phát triển kinh doanh có quy mô lớn và dài hạn. Vốn đi vay Vay của NHTW Lẽ sống của NHTM là nhận ký thác và cho vay.
NHTM phải cho vay tới mức mà NHTW cho phép để tối đa hoá lợi nhuận. Nhƣng không phải lúc nào hoạt động của ngân hàng cũng thuận lợi. Dầu thận trọng cách mấy trong việc cho vay, NHTM cũng khó tránh khỏi có lúc thiếu khả năng chi trả hoặc kẹt quá tiền mặt. Ở Việt Nam hiện nay, có các loại cho vay của NHNN đối với NHTM nhƣ sau: (i) Cho vay bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn: là hình thức tài trợ vốn theo kế hoạch, chỉ phân phối cho các NHTM quốc doanh.
(ii) Chiết khấu và tái chiết khấu trái phiếu kho bạc, khế ƣớc mà các ngân hàng đã cho các khách hàng vay chƣa đáo hạn và các thƣơng phiếu. (iii) Cho vay bổ sung vốn thanh toán bù trừ của các tổ chức tín dụng. Vay từ các NHTM và các tổ chức tín dụng khác Ngoài các loại vay đã nêu trên, các NHTM để đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh còn vay vốn ở các ngân hàng khác, giữa các NHTM và các tổ chức tín dụng có thể cho vay lẫn nhau theo nguyên tắc: Các ngân hàng phải hoạt động hợp pháp; Thực hiện việc cho vay và đi vay theo hợp đồng tín dụng; Vốn vay có thể đƣợc bảo đảm bằng thế chấp, cầm cố hay xin bảo lãnh của NHTW. Các hình thức huy động vốn khác Ngoài các hình thức huy động vốn trên, NHTM còn có các nguồn khác nhƣ: Tiền gửi ký quỹ, tiền gửi đảm bảo khả năng thanh toán, tiền tạm giữ, tiền đang chuyển và các khoản khác.