Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn của NHTM; Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thị xã Duy Tiên; Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thị xã Duy Tiên. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm huy động vốn của ngân hàng thương mại Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản của các ngân hàng hay còn gọi là nghiệp vụ tạo vốn với nhiều hình thức đa dạng, phong phú nhằm thu hút vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế để phục vụ mục đích kinh doanh của mình. Vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của cac ngân hàng thương mại.
Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút. Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Từ phân tích trên, luận văn sử dụng khái niệm huy động vốn như sau: “Huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng” (Nguyễn Văn Tiến, 2013).
Nguyên tắc huy động vốn của ngân hàng thương mại Các nguyên tắc huy động vốn của ngân hàng thương mại gồm: -Tuân thủ pháp luật trong huy động vốn. Bất kỳ hoạt động nào cũng cần phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật, huy động vốn của NHTM không phải là ngoại lệ. Hoạt động HĐV của các NHTM không những phải tuân thủ các quy định của NHNN mà còn tuân thủ các quy định của pháp luật để đảm bảo an toàn và hiệu quả, tránh tổn thất cho ngân hàng và cho khách hàng. - Thỏa mãn yêu cầu kinh doanh với chi phí thấp nhất.
10 Mục đích hoạt động của NHTM là vì lợi nhuận, do đó các NHTM phải đảm bảo được hai yêu cầu chi phí thấp và quy mô cao của nguồn vốn huy động. Với chi phí thấp và quy mô cao sẽ giúp ngân hàng có nguồn vốn rẻ và đủ lớn để tài trợ cho các dự án qua việc cấp phát tín dụng đồng thời làm cho biên độ chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra lớn từ đó tạo lợi nhuận cao. Để có thể cạnh tranh với các tổ chức trung gian tài chính khác đòi hỏi NHTM phải áp dụng đa dạng hoá phương thức trả lãi đi đôi với dự thưởng để thu hút khách hàng và đưa ra nhiều phương thức huy động để hạn chế rủi ro (rủi ro thanh khoản khi sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay dài hạn do không huy động được nguồn vốn dài hạn) và phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng. - Ngăn ngừa sự giảm sút bất thường của nguồn vốn huy động.
Hoạt động của ngân hàng dựa vào chữ tín. Có tin tưởng vào sự quản lý và khả năng trả nợ của ngân hàng, thì người dân mới gửi tiền. Vì vậy để tạo và giữ chữ tín của mình đối với khách hàng, ngân hàng phải đảm bảo khả năng thanh toán, đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu rút tiền trong mọi tình huống của người dân. Bên cạnh việc đảm bảo tốt khả năng thanh khoản, ngân hàng cần nắm bắt kịp thời những thông tin đồn thất thiệt về hoạt động kinh doanh của ngân hàng và tìm cách ngăn chặn chúng.
Bởi vì nếu không kịp thời ngăn chặn những thông tin đồn thất thiệt về hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ gây tâm lý sợ mất tiền trong người dân. Từ tâm lý lo sợ đó, người dân sẽ đến rút tiền hàng loạt, khi đó ngân hàng không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu rút tiền của người dân (do nguồn vốn huy động đã sử dụng cho vay chưa thu hồi kịp) (Peter S. Đặc điểm nguồn vốn của ngân hàng thương mại Nguồn vốn của NHTM có các đặc điểm sau: - Vốn huy động trong ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn này.
Cũng như các ngành nghề kinh doanh khác, để cho hoạt động kinh doanh được diễn ra thường xuyên và liên tục thì cần phải có tư liệu sản xuất. Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ trong đó tiền là nguyên liệu chính trong việc tạo ra sản phẩm NH, là một thứ nguyên liệu độc tôn 11 không thể thay thế. Hoạt động tìm kiếm tư liệu sản xuất của NH là hoạt động huy động vốn. Do đặc trưng của nguồn vốn huy động là luôn có một lượng tồn khoản rất lớn và NH có thể sử dụng lượng tồn khoản này để phục vụ cho qúa trình hoạt động kinh doanh của mình.
Nên tình hình hoạt động của Ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào tình hình huy động vốn của chính Ngân hàng đó. - Vốn huy động là nguồn vốn không ổn định, vì khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc, do đó NHTM cần phải duy trì một khoản dự trữ thanh khoản để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng.Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng thương mại là đảm bảo khả năng thanh khoản đầy đủ. Một ngân hàng thương mại được xem là có khả năng thanh khoản nếu nó tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn khả dụng ở chi phí hợp lý và đúng lúc cần thiết. Điều này có nghĩa là ngân hàng có sẵn lượng ngân quỹ dự trữ trong tay hoặc có thể tăng thêm bằng cách vay mượn hoặc bán bớt một số tài sản mà ngân hàng đang có.
- Vốn huy động là nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn tương đối cao và chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Cho vay hay đầu tư để sinh lợi từ tiền đã huy động được là lẽ sống của NHTM. Nguồn vốn và sử dụng vốn đó là hai quá trình hoạt động của Ngân hàng. Công tác cân đối vốn của Ngân hàng là một chiến lược huy động vốn đúng đắn, phù hợp với kế hoạch sử dụng vốn trong từng thời kỳ sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa và tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh.
Sự hài hoà giữa huy động vốn và sử dụng vốn chính là công tác cân đối vốn của Ngân hàng. Công tác cân đối vốn là hết sức quan trọng và cần thiết đối với bất kỳ ngân hàng nào. Đó là một biện pháp nghiệp vụ, là một công cụ quản lý của nhà lãnh đạo ngân hàng, thông qua bảng cân đối đa lập, các cán bộ ngân hàng xem xét, phân tích cơ cấu, tỷ trọng các nguồn và từng khoản sử dụng để dự đoán nhu cầu vốn biến động trong tương lai, từ đó có chính sách huy động vốn thích hợp. - Vốn huy động là nguồn vốn có tính cạnh tranh cao, gay gắt giữa các ngân hàng thương mại.
Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, chỉ 12 xuất hiện trong điều kiện của kinh tế thị trường. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh là môi trường tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các tổ chức, là nhân tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi tổ chức. Vì vậy, các tổ chức đều cố gắng tìm cho mình một chiến lược phù hợp để chiến thắng trong cạnh tranh.Do nhu cầu vốn hoạt động từ các khách hàng một số năm gần đây khá lớn, nên các NHTM đã đưa ra nhiều chính sách khuyến mãi, hậu mãi để huy động vốn, sự cạnh tranh nhìn chung là khá quyết liệt và gay gắt (Nguyễn Văn Tiến, 2013).
Vai trò của hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Huy động vốn có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với ngân hàng, doanh nghiệp, mà thậm chí cả với nền kinh tế. Các doanh nghiệp không thể mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, các ngân hàng không thể tăng thu nhập, mở rộng thị phần kinh doanh, nền kinh tế không thể phát triển bền vững nếu chỉ căn cứ vào nguồn vốn tự có. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này, các NHTM luôn tìm mọi cách để gia tăng nguồn vốn của mình. Cụ thể: - Đối với toàn bộ nền kinh tế Với tư cách là trung gian tài chính các NHTM huy động các nguồn tiền nhàn dỗi từ dân cư, rồi từ đó luân chuyển ngồn vốn đó vào các quá trình sản xuất và kinh doanh trong nền kinh tế.
Qua đó, các doanh nghiệp có thể vay vốn của ngân hàng, phục vụ cho việc mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, giả quyết vấn đề công an việc làm, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Mặt khác công tác huy động vốn, còn là kênh dẫn truyền chính sách tiền tệ rất hiệu quả; thông qua hoạt động huy động vốn của các NHTM, NHNN có thể điều tiết mức cung tiền trong hệ thống tài chính. - Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, nguồn vốn huy động chiếm tỉ trọng lớn nhất, góp phần cung cấp nguồn lực đầu vào của ngân hàng, qua đó ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình nhằm mục đích sinh lợi nhuận. 13 Dựa vào quy mô vốn huy động tiền gửi ngân hàng có thể đánh giá được uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng đối với mình.
Qua đó, nâng cao chất lượng các gói sản phẩm dịch vụ của mình; cũng như hoàn thiện hơn nữa chính sách chăm sóc khách hàng nhằm nâng cao hình ảnh của mình nhằm duy trì và mở rộng quan hệ với khách hàng.