phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục, các cụm từ viết tắt, nội dung chính của đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại Thƣơng Lào (BCEL) Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của 6 Ngân hàng Ngoại thƣơng Lào trong thời gian tới 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, ngân hàng thƣơng mại hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá.
Khi sản xuất phát triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia tăng lên, để khác phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì xuất hiện các thƣơng gia làm nghề đổi tiền. Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa. Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ đƣợc phát triển dần nhƣ giữ tiền hộ, chi trả hộ. trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng.
(Minh Kiều, 2008) Theo luật các quy định của NHNN CHDCND Lào năm 2012 thì : “NHTM là tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận” NHTM là một trong những định chế tài chính trung gian có số lƣợng lớn, phổ biến và quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trƣờng. NHTM vừa giữ vai trò ngƣời đi vay, vừa giữ vai trò ngƣời cho vay, hƣởng lợi nhuận dựa trên phần chênh lệch lãi suất để duy trì các hoạt động của mình và làm các dịch vụ Tài chính khác. Nhờ có NHTM mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội đƣợc huy động tập trung lại đồng thời đƣợc sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế cá nhân để phát triển xã hội. 8 Với vai trò quan trọng của mình, ngân hàng thƣơng mại cung cấp rất nhiều các dịch vụ ngân hàng, bao gồm các hoạt đông chủ yếu sau: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động cung cấp các dịch vụ, trung gian tài chính.
Trong đó, tín dụng là một hoạt động truyền thống của Ngân hàng thƣơng mại và là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chính cho Ngân hàng, vì vậy tín dụng luôn đƣợc chú trọng ƣu tiên phát triển. Chức năng của ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại có các chức năng nhƣ sau : - Chức năng trung gian tín dụng: Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là "cầu nối" giữa ngƣời dƣ thừa vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay.
Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: ngƣời gửi tiền, ngân hàng và ngƣời đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất đƣợc thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này, NHTM đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM vì nó phản ánh bản chất của NHTM là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Đồng thời nó cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.(Nguyễn Thị Xuân, 2010) - Chức năng trung gian thanh toán: NHTM làm trung gian thanh toán khi 9 nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ở đây NHTM đóng vai trò là ngƣời "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là ngƣời giữ tài khoản của họ. Với chức năng này, các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán thuận lợi. Nhờ đó, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm đƣợc rất nhiều chi phí, thời gian đi tới gặp chủ nợ, ngƣời phải thanh toán và lại đảm bảo đƣợc việc thanh toán an toàn.
Qua đó, chức năng này thúc đẩy lƣu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lƣu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm đƣợc lƣợng tiền mặt trong lƣu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lƣu thông tiền mặt nhƣ chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền. Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM (Nguyễn Thị Xuân, 2010). - Chức năng tạo tiền: Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM.
Đây chính là một bộ phận của lƣợng tiền đƣợc sử dụng trong các giao dịch. Với chức năng "tạo tiền", hệ thống NHTM đã làm tăng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.(Nguyễn Thị Xuân, 2010) Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng. Các hoạt động của ngân hàng thương mại 1.
Huy động vốn Huy động vốn là một trong những hoạt động vô cùng quan trọng của ngân hàng. Tuy hoạt động này không trực tiếp mang lại lợi nhuận nhƣng nó góp phần mang lại nguồn vốn giúp ngân hàng thực hiện các mục tiêu của mình. Mặt khác thông qua nghiệp vụ huy động vốn ngân hàng cũng có thể đo lƣờng đƣợc uy tín cũng nhƣ sự tín nhiệm của khách hàng với ngân hàng. NHTM có thể huy động vốn dƣới nhiều hình thức nhƣ: - Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và tổ chức tín dụng khác dƣới nhiều hình thức nhƣ tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm,….
Đây là hoạt động đặc trƣng, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Nếu khả năng huy động vốn tốt ngân hàng sẽ có nguồn vốn dồi dào đáp ứng khả năng thanh khoản cũng nhƣ mở rộng cho vay và đầu tƣ tài chính. Nguồn vốn huy động này càng rẻ thì ngân hàng càng thu đƣợc nhiều lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro. - Phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc khi đƣợc NHNN chấp thuận.
- Vay các NHTM, các TCTD, các tổ chức tài chính khác: Trong quá trình hoạt động kinh doanh không tránh khỏi những lúc ngân hàng thiếu hụt vốn, lúc này các NHTM có thể vay vốn các ngân hàng khác qua thị trƣờng tiền tệ và thị trƣờng liên ngân hàng. Thông thƣờng các khoản vay này chi phí cao nên các NHTM chỉ vay khi thực sự cần thiết và trong khoảng thời gian ngắn. - Vay NHNN: các NHTM có thể vay NHNN thông qua nghiệp vụ tái cấp vốn, đây có thể xem là hình thức NHNN tài trợ giúp các NHTM vƣợt qua khó khăn. Nghiệp vụ tín dụng Tín dụng là việc ngân hàng cho khách hàng của mình đƣợc quyền sử dụng vốn của ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định với đúng mục đích đã cam kết.
Đây là hoạt động sinh lời chính của các NHTM. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro vì vậy mà các ngân hàng cần quản lý khoản cho vay chặt chẽ để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro không thu hồi đƣợc vốn. Trong bối cảnh kinh tế phát triển, các loại cho vay của ngân hàng ngày càng phong phú, căn cứ vào phƣơng pháp cho vay, thời hạn cho vay, mục đích sử dụng vốn vay và tính chất luân chuyển vốn sẽ có những loại vay phù hợp, nhƣng dù là loại vay nào cũng phải đảm bảo nguyên tắc, điều kiện và đảm bảo khoản vay. Nghiệp vụ đầu tư Đầu tƣ là nghiệp vụ sinh lợi chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng chỉ sau nghiệp vụ tín dụng.
NHTM dùng nguồn vốn huy động của mình để đầu tƣ trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm tìm kiếm thêm lợi nhuận và phân tán rủi ro. Ngân hàng có thể đầu tƣ trực tiếp bằng cách góp vốn vào các công ty liên doanh liên kết hoặc thành lập các công ty mới để đa dạng lĩnh vực, mở rộng thị trƣờng. Ngoài ra, ngâng hàng còn có thể đầu tƣ gián tiếp vào các loại chứng khoán nhƣ mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, trái phiếu chính quyền địa phƣơng,. Ngân hàng luôn có chiến lƣợc đầu tƣ hợp lý vào cả loại hình ngắn hạn và dài hạn để có thể thu lợi nhuận cao nhất đồng thời có thể nhanh chóng chuyển đổi các loại chứng khoán ngắn hạn sang tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh 12 khoản.
Nghiệp vụ kinh doanh khác Đây là nghiệp vụ kinh doanh mà ngân hàng thực hiện theo sự ủy nhiệm của khách hàng để thu phí và hoa hồng. Bao gồm các dịch vụ ngân hàng nhƣ thanh toán trong nƣớc và quốc tế, bảo lãnh, cho thuê két sắt, tƣ vấn,… Việc tận dụng các nguồn thu từ dịch vụ giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro, đa dạng hóa hoạt động, đồng thời đáp ứng đầy đủ và toàn diện các nhu cầu của khách hàng. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 1.