CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY DNVVN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý thuyết về DNVVN 1. Khái niệm về DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Đối với Việt Nam, đây là loại hình doanh nghiệp có đóng góp quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế.
Để đưa ra cụ thể và rõ ràng nhất về khái niệm của DNVVN thì cần phải đặt vào những điều kiện cụ thể của từng quốc gia cũng như từng thời điểm nghiên cứu. Bởi mỗi quốc gia có những đặc trưng và điều kiện kinh tế khác nhau dẫn đến sự phân loại các doanh nghiệp cũng vì thế mà khác nhau. Ví dụ, có thể doanh nghiệp này đặt ở trong điều kiện của quốc gia phát triển thì nó chỉ là DNVVN nhưng nếu đặt trong điều kiện kinh tế của một quốc gia kém phát triển hơn thì nó lại là doanh nghiệp lớn hoặc rất lớn. Do đó, khi xét một doanh nghiệp cần phải biết nó ở quốc gia nào và thời điểm nghiên cứu là khi nào vì luật quy định về loại hình doanh nghiệp có thể sửa đổi bất cứ lúc nào.
Nguyên nhân cơ bản của sự khác biệt khi phân chia loại hình doanh nghiệp ở các quốc gia đó việc sử dụng các tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp, nhưng nhìn chung các tiêu thức cũng dựa vào một số tiêu chuẩn định lượng về quy mô doanh nghiệp như doanh thu, tổng tài sản và số lượng lao động. Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB), DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV có thể được chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là: doanh nghiệp siêu nhỏ với số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người và doanh nghiệp vừa có từ 50 đến dưới 300 lao động.1: Phân loại DNVVN ở một số quốc gia Các tiêu chí áp dụng Quốc gia Tổng nguồn Tổng doanh Số lao động (người) vốn thu Ôxtraylia < 500 trong công nghiệp và dịch vụ Canada < 500 cho cả công nghiệp và dịch vụ Hồng Kông < 100 trong công nghiệp và < 50 < 20 triệu đô là trong dịch vụ Canada Inđônêxia < 100 <0,6 tỷ rupi < 2 tỷ rupi Nhật Bản < 100 trong bán buôn < 30 triệu yên < 50 trong bán lẻ < 10 triệu yên < 300 trong các ngành khác <100triệu yên Mexico < 250 < 7 triệu USD Philippin < 200 <100 triệu peso Singapo ≤ 200 ≤ 100 triệu SGD Myanmar < 100 < 400 triệu đô Thái Lan < 100 Mỹ < 500 < 20 triệu bath 6 (Nguồn: dẫn theo kỷ yếu khoa học: Dự án chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, viện Friedrich Ebert cộng hòa liên bang Đức, Hà Nội) Bảng 1.1 cho ta thấy, hầu hết các quốc gia đều phân loại DNVVN theo số lượng lao động bình quân vì đây là tiêu chí có sự ổn định lâu dài về mặt thời gian, thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực doanh nghiệp đang tham gia.
Còn các tiêu chí doanh thu, vốn…là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ nhưng thiếu ổn định do thường xuyên chịu tác động bởi các biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, lạm phát… Ở Việt Nam, Chính phủ mới đây đã ban hành nghị định 39/2018/NĐ-CP để thay thế cho nghị định 56, cụ thể hóa chi tiết một số nội dung trong Luật hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo đó, tiêu chí để xác định và phân loại DNVVN bao gồm: tổng số lao động tham gia bảo hiểm xã hội, tổng nguồn vốn và tổng doanh thu (trong đó ưu tiên tổng doanh thu), cụ thể như sau: Bảng 1.2: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo nghị định 39/2018/NĐ-CP Nông, lâm nghiệp, thủy sản và Thương mại và dịch vụ Loại hình lĩnh vực công nghiệp, xây dựng DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Số lao động Không Không Không Không Không quá Không quá tham gia quá 100 quá 200 quá 50 quá 100 10 người 10 người BHXH người người người người Doanh thu Không Không Không Không Không quá 3 Không quá hàng năm quá 50 quá 20 quá 100 quá 300 tỷ đồng 10 tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng Tổng nguồn Không Không Không Không Không quá 3 Không quá 3 vốn quá 20 quá 10 quá 50 quá 100 tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018) 7 Hiện nay, DNVVN có thể tồn tại dưới các hình thức pháp lý sau: - Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân - Công ty trách nhiệm hữu hạn (1 hoặc nhiều thành viên) - Công ty cổ phần - Công ty hợp danh - Hợp tác xã - Hộ kinh doanh cá thể 1. Đặc điểm của DNVVN a. Điểm mạnh của DNVVN - Quy mô vừa và nhỏ nên có tính năng động, linh hoạt Quy mô vốn nhỏ đã tạo ra những mặt thuận lợi cho các DNVVN.
Với số vốn đầu tư ban đầu nhỏ, khả năng thu hồi vốn cao do đó các nhà đầu tư dễ lựa chọn loại hình doanh nghiệp này khi quyết định thành lập công ty. Vốn đầu tư ban đầu nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh vì phần lớn các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực thương mại, sản xuất nhỏ nên sản phẩm dễ tiêu thụ, chu kỳ kinh doanh ngắn, thu hồi vốn nhanh hơn những doanh nghiệp lớn. Khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện tăng tốc độ vòng quay vốn để đầu tư vào công nghệ tiên tiến từ đó giúp mở rộng sản xuất kinh doanh và tăng hiệu quả sử dụng vốn. Sở dĩ như vậy là vì với số vốn đầu tư ban đầu không lớn nên các DNVVN thường chỉ tham gia vào dự án nhỏ, thời gian đầu tư không dài nên vòng quay vốn đầu tư tất yếu nhanh, từ đó nhanh chóng đánh giá được kết quả đầu tư.
Đây là điểm thu hút các nhà đầu tư đến với khu vực này. So với các doanh nghiệp lớn, các DNVVN năng động hơn và có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có phản ứng khá nhanh nhạy với sự biến đổi của thị trường. Trong khi đó, quy mô vừa và nhỏ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu sản xuất hay bộ máy quản lý khi có sự bất lợi từ môi trường kinh doanh, tăng khả năng thích nghi của các doanh nghiệp với những biến động của thị trường. Vì vậy mà DNVVN có khả năng phục hồi dễ dàng và nhanh chóng hơn so với doanh nghiệp lớn.
Khác với các doanh nghiệp lớn đòi hỏi một thị trường lớn, thậm chí là cần sự bảo hộ của Chính phủ và có sự độc quyền, các DNVVN hoạt động với số lượng 8 đông đảo dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh. DNVVN thường có tính tự chủ cao hơn so với các doanh nghiệp lớn, sẵn sàng khai thác triệt để các cơ hội phát triển mà không ngại rủi ro. Chính điều này tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động hơn, khai thác tối đa mọi tiềm lực của đất nước. - Hệ thống tổ chức và quản lý ở các DNVVN gọn nhẹ, linh hoạt, tiết kiệm được chi phí.
Công tác điều hành mang tính trực tiếp, các quyết định được thực hiện nhanh chóng, công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành chặt chẽ, không phải qua nhiều khâu trung gian vì vậy tiết kiệm được nhiều chi phí quản lý doanh nghiệp. DNVVN có số lao động không lớn nên mối quan hệ giữa người quản lý và người lao động khá chặt chẽ, gắn bó, tạo môi trường làm việc tốt.Việc tiếp xúc, gần gũi để nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của người lao động dễ dàng, tạo điều kiện cho nhà quản lý trong việc đưa ra các chính sách quản lý phù hợp, giúp người lao động phát huy hết được khả năng của mình và phát huy hết lợi thế vùng kinh tế cho sản xuất kinh doanh. Hạn chế - Khả năng tài chính của DNVVN bị hạn chế Với ưu thế được tạo lập dễ dàng với một lượng vốn ít nên hầu hết các DNVVN hay gặp phải một hạn chế đó là năng lực tài chính thấp. Từ đó dẫn đến một loạt khó khăn cho DNVVN trong sản xuất kinh doanh Với số vốn tự có khiêm tốn nên 90% số doanh nghiệp phải tự huy động, vay vốn các nguồn để sản xuất kinh doanh.
Nguồn vay chủ yếu của các DNVVN là tín dụng Ngân hàng, tuy nhiên các doanh nghiệp lại thường khó tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng của các Ngân hàng do thiếu tài sản có giá trị lớn để thế chấp. Việc thiếu vốn sẽ làm doanh nghiệp bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh, gặp khó khăn trong việc mua sắm các thiết bị máy móc, mở rộng sản xuất. - Công nghệ sản xuất dịch vụ của các DNVVN còn lạc hậu Máy móc ít, công nghệ lạc hậu, khả năng và điều kiện áp dụng tiến bộ kĩ thuật rất hạn chế, lao động thủ công nhiều là một trong những hạn chế của các DNVVN. Hạn chế này cũng bắt nguồn từ việc thiếu vốn của DNVVN.
Tỷ lệ đổi 9 mới trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt Nam chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới. Đây chính là nguyên nhân của tình trạng lãng phí trong sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu và ô nhiễm môi trường. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí lên 1,5 lần đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá thành cao và nâng suất thấp, khả năng cạnh tranh trên thị trường thấp, doanh thu theo đó bị hạn chế, lợi nhuận không được đảm bảo. - Năng lực quản lý, điều hành của người lãnh đạo và chất lượng lao động tác nghiệp còn thấp.
Do trong các DNVVN người sở hữu vốn đồng thời là người quản lý, chủ doanh nghiệp nên hiểu biết về quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Số lượng công nhân và người đứng đầu công ty được đào tạo chỉ chiếm hơn 20%. Cơ cấu nghề nghiệp không cân đối, phần lớn đào tạo ngắn hạn, rất ít nhân sự kĩ thuật và kĩ thuật đầu đàn, năng suất lao động thấp, năng lực quản lý yếu.