Chương 1 về “Những vấn đề chung về dữ liệu cá nhân và bảo vệ dữ liệu cá nhân của khách hàng trong hoạt động ngân hàng thương mại”; Chương 2 về “Pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và thực tiễn triển khai tại các ngân hàng thương mại”; Chương 3 về “Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân khách hàng trong ngân hàng thương mại”. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỮ LIỆU CÁ NHÂN VÀ BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN CỦA KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHTM Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng quyền riêng tư có nguồn gốc lịch sử sâu xa, sơ khai xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và phát triển cho đến ngày nay. Tuy nhiên phải đến những năm giữa thế kỷ 19 mới được ghi nhận trong một số văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia phát triển. Quyền riêng tư thực sự trở nên phổ biến gắn liền với sự phát triển của khoa học, công nghệ đến mức độ nhất định.
Vài thập niên gần đây, thuật ngữ “DLCN” xuất hiện trong khoa học pháp lý, khi được tiếp cận trên quan điểm quyền con người (human rights) hay quyền riêng tư ( rights to privacy). Theo quan điểm này, quyền riêng tư luôn gắn liền với chủ thể là cá nhân, trong khi đó cá nhân lại là chủ thể của thông tin liên quan đến họ cho nên để bảo vệ quyền riêng tư thì phải bảo vệ DLCN. Sự bùng nổ nhanh chóng của cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, kết nối vạn vật,.là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến dữ liệu các nhân và biến nó trở thành một loại “tài sản mới” và là vấn đề quan trọng cần có những khuôn khổ bảo vệ thỏa đáng trong đời sống con người của kỷ nguyên 4. Khái quát về dữ liệu cá nhân và bảo vệ dữ liệu cá nhân 1.Khái niệm dữ liệu cá nhân 1.
Định nghĩa về dữ liệu cá nhân Về khía cạnh ngôn ngữ, DLCN được hợp thành bởi hai từ là “dữ liệu” và “cá nhân”. Theo từ điển tiếng Việt “dữ liệu” là số liệu, tư liệu đã có, được dựa vào để giải quyết một vấn đề, những thông tin như văn bản, âm thanh, hình ảnh,.được biểu diễn trong máy tính dưới dạng quy ước, nhằm tạo sự dễ dàng cho việc lưu trữ, xử lý. Từ điển Oxford (Anh quốc) giải thích dữ liệu (data) là “sự thật hoặc thông tin, được sử dụng để nhận biết hoặc đưa ra quyết định”. Từ điển Cambridge giải nghĩa dữ liệu là tập hợp các dữ kiện, phần thông tin riêng biệt, được thu thập, định dạng và lưu trữ theo cách phù hợp để kiểm tra, xem xét, sử dụng bởi máy tính.
“Cá nhân” là người riêng lẻ, phân biệt với tập thể. Kể từ 21 khi khoa học máy tính ra đời vào giữa những năm 1900, dữ liệu thường đề cập đến thông tin được truyền hoặc lưu trữ dưới dạng điện tử. Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu khoa học, quản lý doanh nghiệp, tài chính, quản trị và trong hầu như mọi hoạt động tổ chức khác của con người. Dữ liệu được đo lường, thu thập, báo cáo, phân tích đồng thời được sử dụng để tạo trực quan hóa dữ liệu như đồ thị, bảng,.
Dữ liệu là một khái niệm chung đề cập đến thực tế là một số thông tin, kiến thức hiện có hoặc biểu hiện dưới dạng mã hóa ở một số hình thức phù hợp để sử dụng hoặc xử lý tốt hơn. Theo từ điển Kinh doanh: DLCN bao gồm các vấn đề cụ thể hơn liên quan đến cả thể chất và tinh thần bao gồm: (1) Tên, địa chỉ, địa chỉ email, số điện thoại (2) chủng tộc, quốc tịch, dân tộc, nguồn gốc, màu da, tín ngưỡng, hoặc tổ chức tôn giáo hay chính trị (3) tuổi hay giới tính, khuynh hướng tình dục, tình trạng hôn nhân, tình trạng gia đình, (4) Mã số định danh, mã số, ký hiệu, (5) vân tay, nhóm máu, các đặc điểm di truyền, (6) lịch sử chăm sóc sức khỏe (7) lịch sử, giáo dục, tài chính, hình sự việc làm, (8) sáng tác cá nhân, (9) quan điểm cá nhân. Trong luật học, có thể nói dữ liệu là một trong những đối tượng phức tạp nhất mà pháp luật cần phải xem xét. Đặc biệt trong sự so sánh khái niệm gần gũi như “thông tin” hay cụ thể là “thông tin cá nhân” các cách hiểu trong đời sống xã hội cũng như các định nghĩa hiện nay có vẻ vẫn đang ghi nhận sự tương đồng khá lớn giữa hai đối tượng này.
Liên quan đến khái niệm sử dụng hợp pháp, hiện nay có ba cụm từ được sử dụng phổ biến trên thế giới: “DLCN”, “Thông tin cá nhân” và “quyền riêng tư”. Các thành viên EU sử dụng DLCN nhiều hơn, Hoa Kỳ và Canada sử dụng quyền riêng tư, Nhật Bản, Hàn quốc, Nga và các quốc gia khác sử dụng thông tin cá nhân. Trong khi các ngành khoa học nghiên cứu về dữ liệu đã đề ra định nghĩa cơ bản về dữ liệu nhưng khoa học pháp lý nhìn chung vẫn chưa thống nhất thừa nhận hoặc áp dụng các định nghĩa tương tự đó. Như vậy, có thể thấy hiện nay, tại các quốc gia khác nhau sẽ sử dụng những thuật ngữ khác nhau có nghĩa khá tương đồng để gọi tên DLCN.
Hiểu một cách đơn giản, “dữ liệu cá nhân” “thông tin cá nhân” hay “quyền riêng tư” đều hướng về một đối tượng.Tính đến nay, các văn bản pháp lý có tính quốc tế đã đưa ra những khái niệm về DLCN, bên cạnh những nét tương đồng về nội hàm khái niệm thì những khái niệm đó cũng có những khác biệt. 22 Tại Nhật Bản, Đạo luật bảo vệ thông tin cá nhân có sự phân biệt khái niệm “Thông tin cá nhân” và khái niệm “DLCN”. Căn cứ tại Điều 2 bộ luật này quy định: “Thông tin cá nhân là thông tin về các cá nhân còn sống và bất kỳ mục nào sau đây nó đề cập tương ứng với tên, ngày sinh và các mô ta khác có thông tin (tài liệu, bàn vẽ hoặc hồ sơ điện tử (phương pháp điện từ, phương pháp điện tử và các phương pháp khác không thể nhận ra bởi nhận thức của con người. Nó giống nhau trong mục thứ hai của đoạn tiếp theo).
Nó đề cập đến bản ghi được thực hiện. Sau đây là như nhau). Nó đề cập đến tất cả vấn đề (không bao gồm mã nhận dạng cá nhân) được mô tả hoặc ghi lại hoặc thể hiện bằng giọng nói, chuyển động hoặc các phương pháp khác. Sau đây là như nhau).
“Theo đó, khái niệm thông tin cá nhân trong pháp luật Nhật Bản có ý nghĩa bao hàm rộng hơn, khái quát hơn so với một số quốc gia trên thế giới.“Dữ liệu cá nhân” được định nghĩa là thông tin cá nhân nằm trong một cơ sở dữ liệu thông tin cá nhân. Tại Trung Quốc, căn cứ Điều 76 Luật An ninh mạng 2017 lần đầu tiên ghi nhận: “thông tin cá nhân là các loại thông tin được ghi lại dưới dạng điện tử hoặc bằng các phương tiện khác. Bao gồm nhưng không giới hạn ở tên, ngày sinh, số CMND, thông tin sinh trắc học cá nhân, địa chỉ, số điện thoại,. Ngày 1/1/2021 Luật bảo vệ thông tin của Trung Quốc địa lục chính thức có hiệu lực, tại Điều 4 của bộ luật này quy định: “thông tin cá nhân là tất cả các loại thông tin liên quan đến các thể nhân đã được nhận dạng được ghi lại bằng điện tử hoặc bằng các phương tiện khác, không bao gồm việc ẩn danh thông tin đã được xử lý”.
Tại EU, căn cứ quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR) quy định: “Dữ liệu cá nhân nghĩa là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một thể nhân được nhận dạng hoặc có thể nhận dạng được (“chủ thể dữ liệu”); một thể nhân có thể nhận dạng là người có thể được nhận dạng, trực tiếp hoặc gián tiếp, cụ thể bằng cách tham chiếu đến một số nhận dạng như tên, số nhận dạng, dữ liệu vị trí, số nhận dạng trực tuyến hoặc một hoặc nhiều yếu tố cụ thể về thể chất, sinh lý, bản sắc di truyền, tinh thần, kinh tế, văn hóa hoặc xã hội của thể nhân đó”. 23 Tại Hoa Kỳ, thông tin liên quan đến một cá nhân thường được gọi là “thông tin cá nhân” chứ không phải DLCN. Mặc dù luật về quyền riêng tư ở Virginia, Colorado, Utah và Connecticut sử dụng thuật ngữ “DLCN”. Định nghĩa về thông tin cá nhân ở Hoa Kỳ không thống nhất ở tất cả các tiểu bang hoặc tất cả các quy định.
Ngoài ra, một số dữ liệu nhất định có thể được coi là thông tin cá nhân cho mục đích này nhưng không cho mục đích khác. Theo CCPA bang California: “thông tin cá nhân bao gồm thông tin xác định, liên quan đến, mô tả, có khả năng liên kết hợp lý hoặc có thể liên kết hợp lý, trực tiếp hoặc gián tiếp, với một người tiêu dùng hoặc hộ gia đình cụ thể”. Theo tất cả bốn luật toàn diện về quyền riêng tư của tiểu bang Virginia, Colorado, Utah và Connecticut, “dữ liệu cá nhân bao gồm thông tin được liên kết hoặc có thể liên kết hợp lý với một cá nhân đã được xác định hoặc có thể nhân dạng, là cư dân của tiểu bang cụ thể với tư cách cá nhân hoặc hộ gia đình”. Dữ liệu được xác định danh tính, DLCN được cung cấp công khai và DLCN về các cá nhân hoạt động trong bối cảnh việc làm hoặc không nằm trong phạm vi áp dụng.
Tại Việt Nam, các văn bản pháp luật hiện hành đưa ra khái niệm DLCN với nội hàm khái niệm DLCN được đề cập với những tên gọi khác nhau: thông tin cá nhân, thông tin riêng, bí mật cá nhân, bí mật cá nhân của người tiêu dùng, thông tin bí mật đời tư,. được quy định trong Hiến pháp 2013. Quy định của Hiến pháp 2013 đã tạo cơ sở xây dựng hành lang pháp lý quan trong cho quy định về bảo vệ DLCN trong một số văn bản khác như: Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Luật An toàn thông tin mạng 2015, Bộ luật hình sự năm 2015,.Có thể thấy, trong lĩnh vực pháp luật hai khái niệm “DLCN” và thông tin cá nhân vẫn còn chưa thực sự rõ ràng. Nhiều ngành luật vẫn sử dụng đồng nhất “dữ liệu” và “thông tin”.
Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của chính phủ về “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước là văn bản pháp luật đầu tiên đưa ra khái niệm thông tin cá nhân mang tính khái quát.