MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội cũng như chịu nhiều thách thức trong các hoạt động kinh doanh của mình. Nhằm tạo được sức mạnh cạnh tranh cũng như tận dụng được tối đa các lợi thế về vốn, về khả năng quản lý., xu hướng các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh theo mô hình tập đoàn kinh tế (công ty mẹ - công ty con) ngày càng nhiều. Thực tế cho thấy ở Việt Nam, các tập đoàn kinh tế nhà nước được hình thành trên cơ sở chuyển đổi và tổ chức lại các tổng công ty nhà nước theo Quyết định 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ tháng 7/1994.
Cho đến nay mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước và mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân đang ngày càng phát triển. Cùng với sự phát triển đó, nhu cầu minh bạch thông tin tài chính của các tập đoàn kinh tế ngày càng được các đối tượng sử dụng thông tin quan tâm. Thông tin tài chính của các tập đoàn kinh tế được cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin qua hệ thống BCTC hợp nhất, đó là một báo cáo tổng hợp tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của nhóm công ty. Nhóm công ty đó có thể hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý dẫn đến để hữu ích hơn cho các đối tượng sử dụng thông tin, trong bản thuyết minh BCTC hợp nhất cần cung cấp thêm thông tin về tài sản, nợ phải trả, doanh thu, chi phí, kết quả của bộ phận kinh doanh trong tập đoàn.
Xuất phát từ nhu cầu đó, chuẩn mực báo cáo bộ phận được Hội đồng biên soạn chuẩn mực kế toán quốc tế soạn thảo, ban hành và trên cơ sở đó, Bộ Tài chính Việt Nam nghiên cứu, ban hành chuẩn mực BCBP năm 2005. Chuẩn mực BCBP đã được Hội đồng biên soạn chuẩn mực kế toán quốc tế nghiên cứu, sửa đổi bổ sung năm 2009, song chuẩn mực BCBP của Việt Nam chưa cập nhật thay đổi theo thông lệ quốc tế. Như vậy báo cáo bộ phận đã được đề cập trong hệ thống các quy định của kế toán ở phạm vi quốc tế cũng như ở Việt Nam. Tuy nhiên vì các lý do khác nhau, đây vẫn là một vấn đề mà các doanh nghiệp còn nhiều lúng túng khi thực hiện đòi hỏi cần có các nghiên đánh giá một cách có hệ thống và đề xuất các giải pháp hoàn thiện cả về góc độ chính sách, chế độ kế toán và về vấn đề thực tiễn ở các doanh nghiệp.
luan an 2 Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam là một tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn và hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau liên quan đến ngành dầu khí, được cơ cấu tổ chức thành một tập đoàn nhiều cấp, thông tin tài chính của tập doàn được cung cấp qua hệ thống BCTC hợp nhất của các công ty mẹ trong tập đoàn. Trên BCTC hợp nhất, thông tin tài chính về các bộ phận kinh doanh theo khu vực địa lý hoặc theo lĩnh vực kinh doanh mặc dù đã được các công ty mẹ trong tập đoàn quan tâm trình bày song vẫn còn những hạn chế dẫn đến ảnh hưởng đến đối tượng sử dụng thông tin. Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn đem lại cái nhìn sâu hơn về BCBP cả về khía cạnh lý luận và thực tiễn việc trình bày thông tin BCBP trong BCTC tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện báo cáo bộ phận tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án Trình bày thông tin BCBP trong BCTC của các doanh nghiệp là vấn đề đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu, cả tác giả trong nước và tác giả quốc tế, công trình của họ thuộc nhiều cấp độ.
Để có cái nhìn toàn cảnh về những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án, tác giả xin chọn giới thiệu một số công trình tiêu biểu. Trong nội dung này của luận án, tác giả sẽ trình bày những nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài về tính hữu ích của thông tin BCBP, mức độ của bất lợi cạnh tranh và mối quan hệ của nó với báo cáo bộ phận, mức độ tuân thủ việc trình bày báo cáo bộ phận và các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày BCBP, sự thay đổi về số lượng và chất lượng của BCBP khi áp dụng chuẩn mực mới so với các chuẩn mực cũ. Tính hữu ích của thông tin BCBP Thông tin BCBP là thông tin tài chính quan trọng, phục vụ cho việc ra quyết định của nhiều đối tượng sử dụng thông tin. Nhiều tác giả trong các nghiên cứu gần đây đã khẳng định, thông tin BCBP giúp nhà đầu tư hiểu rõ kết quả hoạt động của doanh nghiệp theo từng bộ phận kinh doanh, lĩnh vực hoạt động, để họ có thể dự báo dòng tiền tương lai chính xác hơn.
Đánh giá tính hữu ích của việc trình bày thông tin BCBP trong BCTC, tác giả đã nghiên cứu một số nội dung sau: luan an 3 2. Thông tin báo cáo bộ phận làm tăng chất lượng thông tin BCTC Suwaidan, M. - “The Segment Information Disclosures in the Annual Reports of the Jodani Industrial companies” (A Fuiled Study Commercial College for Scientifc Research: Alexanderia University - 2007). Suwaidan và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu về đầu tiên về các thông lệ trong việc trình bày thông tin BCBP của các DNNY tại Jordan.
Nhóm tác giả cho rằng những nghiên cứu như này rất hữu dụng, giúp cho tất cả những người sử dụng BCTC đánh giá được tầm quan trọng của thông tin BCBP trong việc ra quyết định. Họ đã nghiên cứu thông tin BCBP được trình bày theo IAS 14 của 67 DNNY trong ngành công nghiệp của Jordan trên sàn giao dịch chứng khoán của Jordan, từ các báo cáo thường niên được công bố năm 2002. Bằng việc sử dụng các phép thử hồi quy, họ đã kiểm tra mối quan hệ giữa mức độ cung cấp thông tin BCBP và một số các đặc tính của doanh nghiệp như: quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ nợ, tỷ lệ tài sản hiện có. Họ công bố một bảng các chỉ số kiểm tra dựa trên những yêu cầu của IAS 14 bao gồm 11 yếu tố của bộ phận chính yếu (doanh thu từ bên ngoài, doanh thu nội bộ, lợi nhuận, tài sản, cơ sở giá nội bộ, nợ phải trả, chi phí tài chính, chi phí khấu hao, các khoản chi phí không bằng tiền khác, lợi nhuận từ liên doanh/liên kết và đối chiếu, điều chỉnh với các tài khoản hợp nhất); ba yếu tố của các bộ phận thứ yếu (doanh thu từ bên ngoài, tài sản và các chi phí tài chính); và hai yếu tố cho những nội dung khác (loại hình sản phẩm/dịch vụ của các doanh nghiệp và yếu tố địa lý.
Trong các nghiên cứu của mình các tác giả này đã khẳng định rằng, mức độ trình bày thông tin BCBP trong BCTC càng chi tiết sẽ càng làm tăng giá trị thị trường của doanh nghiệp và tăng khả năng thanh khoản trên TTCK. Thông tin BCBP giúp dự đoán kết quả trong tương lai Behn, B. - “The Predictive Ability of Geographic Segment Disclosures by U. Companies: SFAS No.
Journal of International Accounting Research” (2002). Trong nghiên cứu này, dữ liệu được thu thập từ 172 doanh nghiệp, tác giả đã tiến hành kiểm chứng, xem xét liệu việc cung cấp thông tin BCBP theo quy định của SFAS 131 có thực sự giúp cho đối tượng sử dụng thông tin hiểu được rủi ro và lợi nhuận trong khoản đầu tư của họ ở doanh nghiệp không. Kết quả cho thấy, trên 50% doanh nghiệp trong khảo sát đã luan an 4 cung cấp thông tin BCBP theo quy định của SFAS 131; và thông tin BCBP theo khu vực địa lý đã giúp cho đối tượng sử dụng thông tin dự báo được thu nhập tương lai của một doanh nghiệp. - “The Impact of SFAS No.
131 Business Segment Data on the Market's Ability to Anticipate Future Earnings. Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả đã khẳng định được, việc trình bày thông tin BCBP có thể giúp cho việc dự báo kết quả kinh doanh trong tương lai của một doanh nghiệp. Trên cơ sở xem xét quan điểm của đối tượng sử dụng thông tin, cụ thể là nhà đầu tư, kết quả cho thấy, đối tượng sử dụng thông tin quan tâm đến kết quả từng bộ phận của doanh nghiệp hơn là kết quả chung của doanh nghiệp. M - “The Usefulness of Geographic Segment Disclosure for US - Based MNCs Operating in Emerging Markets.
Advances in International Accounting” (2004). Các tác giả đã nghiên cứu số liệu thông tin bộ phận theo lĩnh vực địa lý có hữu ích cho người sử dụng BCTC của các công ty đa quốc gia của Mỹ đang hoạt động trong thị trường mới nổi, đặc biệt là các cổ đông của công ty. Giả thuyết này được kiểm nghiệm bằng cách ước lượng hệ số ước lượng thu nhập (ERC) cho chất lượng lợi nhuận của các công ty đang hoạt động trong thị trường mới nổi so với những công ty chỉ hoạt động tại các nước đã phát triển (ví dụ Mỹ). Số liệu bộ phận địa lý được lấy từ 111 công ty.
Vì lợi nhuận thu được từ thị trường mới nổi rủi ro hơn từ các nước phát triển, nghiên cứu đã giả thuyết rằng các công ty trong thị trường mới nổi có chỉ số ERC thấp hơn (cụ thể chất lượng thu nhập thấp hơn) so với trong thị trường của những nước phát triển. Với các khu vực được nghiên cứu, họ thấy rằng các hệ số cho chất lượng lợi nhuận trong thị trường đang nổi (3.65) là nhỏ hơn đáng kể so với hệ số của các công ty chỉ hoạt động tại các nước phát triển. Nói cách khác, lợi nhuận của các công ty đa quốc gia từ những thị trường mới nổi là ít giá trị hơn lợi nhuận đạt được ở các nước phát triển; điều này có nghĩa là chất lượng lợi nhuận có thể khác nhau đối với các khu vực địa lý khác nhau. Do đó, thông tin bộ phận địa lý là hữu ích cho các cổ đông vì nó cho phép họ so sánh chất lượng lợi nhuận của các công ty.
Như vậy các nghiên cứu đều khẳng định tính hữu ích của thông tin bộ phận và đều nhận định rằng việc trình bày nhiều thông tin hơn tạo ra nhiều lợi ích. Việc trình luan an 5 bày nhiều thông tin hơn có thể giúp làm giảm khả nǎng đánh giá công ty thấp hoặc cao hơn so với giá trị thực.