Tổng quan luận án

Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự giữ vị trí trung tâm trong việc bảo đảm trật tự pháp luật và bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật không thể chỉ dừng lại ở các quy phạm trên văn bản mà phải được chuyển hóa vào đời sống thực tế thông qua hành vi của các chủ thể. Trong đó, áp dụng pháp luật hình sự là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt mang tính tổ chức và quyền lực nhà nước khắt khe nhất. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng bên cạnh những kết quả đạt được vẫn tồn tại những hạn chế như tình trạng bỏ lọt tội phạm và kết án oan sai, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền công dân và làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự công minh của pháp luật. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp bách phải nghiên cứu có hệ thống nhằm đáp ứng Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Khoảng trống nghiên cứu lớn nhất lúc này là sự thiếu vắng các công trình chuyên khảo liên ngành kết hợp giữa lý luận, lịch sử nhà nước và pháp luật với khoa học luật hình sự để xem xét đồng bộ hoạt động của cả ba cơ quan tiến hành tố tụng.

Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận án là xây dựng cơ sở lý luận, đánh giá thực tiễn và đề xuất các giải pháp cơ bản đảm bảo hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án ở Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.

Để thực hiện mục đích trên, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn các vấn đề về khái niệm, đặc điểm, nội dung và nguyên tắc của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam trên nền tảng lý luận chung về áp dụng pháp luật.
  2. Phân tích các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật hình sự và cơ chế tham gia của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong việc thực hiện các chức năng tố tụng.
  3. Xây dựng khái niệm hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự, chỉ ra các tiêu chí đánh giá và các yếu tố tác động đến hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của ba cơ quan này.
  4. Đánh giá thực trạng hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, chỉ rõ những mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại.
  5. Xác định các yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp hiện nay và đề xuất các nhóm giải pháp định hướng nhằm bảo đảm hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan này.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam thực hiện. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở ba cơ quan trong ba chức năng điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự; luận án không nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn thi hành án hình sự. Về mặt thời gian, luận án khảo cứu thực tiễn từ năm 1945 đến năm 2007, trong đó số liệu thực tiễn và các bảng thống kê được tập trung phân tích sâu trong giai đoạn 10 năm từ 1997 đến 2007.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu cho thấy các công trình khoa học pháp lý trước đây đã tiếp cận hoạt động áp dụng pháp luật và tố tụng hình sự từ nhiều góc độ chuyên biệt:

Hướng tiếp cận từ lý luận về áp dụng pháp luật: Tác giả Nguyễn Minh Đoan (2002) với bài viết "Áp dụng pháp luật - Một số vấn đề cần quan tâm"; Nguyễn Quốc Hoàn (2002) với luận án tiến sĩ "Cơ chế điều chỉnh pháp luật Việt Nam"; Lê Xuân Thân (2004) với luận án tiến sĩ "Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay". Các công trình này chủ yếu làm rõ bản chất chung của áp dụng pháp luật hoặc tập trung riêng vào hoạt động xét xử của Tòa án.

Hướng tiếp cận về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp: Trần Huy Liệu (2003) với luận án "Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam"; Đào Trí Úc (chủ biên, 2002) với sách chuyên khảo "Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay"; Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.06 do Uông Chu Lưu làm chủ nhiệm (2006) về "Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân".

Hướng tiếp cận chuyên sâu từ khoa học luật hình sự: Giáo trình lý luận chung về định tội danh của Võ Khánh Vinh (2003); sách chuyên khảo "Định tội danh và quyết định hình phạt" của Dương Tuyết Miên (2004); bài viết "Một số vấn đề về quyết định hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự 1999" của Đinh Văn Quế (2005); công trình "Tội phạm và cấu thành tội phạm" của Nguyễn Ngọc Hòa (2006).

Hướng tiếp cận từ tố tụng hình sự và tranh tụng: Nguyễn Đức Mai (2008) với bài viết "Hoàn thiện thủ tục rút gọn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp"; Nguyễn Thái Phúc với bài viết "Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp". Cùng với đó là hệ thống giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội và Học viện Cảnh sát nhân dân.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là tính liên ngành và tính đồng bộ: phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ giải quyết từng khía cạnh riêng rẽ thuộc luật hình sự thực định, thủ tục tố tụng hoặc lý luận chung, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng hợp và toàn diện hoạt động áp dụng pháp luật hình sự trong mối liên hệ biện chứng giữa cả ba thiết chế Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dưới lăng kính lý luận nhà nước và pháp luật trong tiến trình cải cách tư pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là quy luật về mối liên hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, cũng như quan điểm xem pháp luật là công cụ thể hiện ý chí nhà nước bắt nguồn từ các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Khung lý thuyết của luận án tích hợp các thành tựu của khoa học pháp lý liên ngành: lý luận về nhà nước và pháp luật, lịch sử nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, khoa học luật hình sự, tội phạm học và luật tố tụng hình sự.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm các phương pháp định tính và phương pháp xử lý dữ liệu lịch sử - thực tiễn:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các văn kiện của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật thực định (Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003) và các văn bản giải thích hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan tư pháp trung ương.
  • Phương pháp lịch sử và so sánh pháp lý: Khảo cứu quá trình hình thành và phát triển của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự qua các thời kỳ lịch sử từ thời cổ đại (Bộ luật Hammurabi tại Lưỡng Hà, hình pháp nhà Chu tại Trung Quốc, pháp luật thời Ngô - Đinh - Tiền Lê tại Việt Nam) và đối chiếu giữa hệ thống pháp luật Thông luật (Ănglô - Sắcxông) với Dân luật (Châu Âu lục địa).
  • Phương pháp thống kê, quy nạp và diễn dịch: Thu thập, phân loại và xử lý số liệu thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử từ các báo cáo định kỳ hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong giai đoạn 1997 - 2007.

Nguồn dữ liệu của luận án dựa trên các nguồn lưu trữ lịch sử tại Thư viện Quốc gia, Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, các báo cáo tổng kết ngành tư pháp và các bản án hình sự thực tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án

Chương 1 làm rõ vị trí của áp dụng pháp luật trong mối quan hệ với xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Tác giả khẳng định xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai quá trình độc lập; thực hiện pháp luật gồm bốn hình thức: tuân thủ pháp luật (đối với quy phạm cấm đoán), thi hành pháp luật (đối với quy phạm nghĩa vụ), sử dụng pháp luật (đối với quy phạm trao quyền) và áp dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt mang tính tổ chức - quyền lực nhà nước, xuất hiện khi các quyền và nghĩa vụ pháp lý không mặc nhiên phát sinh, không mặc nhiên được công nhận hoặc khi có vi phạm pháp luật và tranh chấp xảy ra.

Luận án phân tích 6 đặc điểm chung của áp dụng pháp luật hình sự với tư cách là một dạng của áp dụng pháp luật:

  1. Hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực nhà nước do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành đơn phương theo quy định pháp luật.
  2. Hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể các quan hệ xã hội khi có sự kiện phạm tội xảy ra (xác định rõ chủ thể, khách thể, không gian, thời gian và căn cứ pháp lý).
  3. Được tiến hành theo các trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
  4. Là hoạt động mang tính sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật của các chủ thể áp dụng.
  5. Luôn được tiến hành dựa trên sự thống nhất giữa cơ sở thực tế (hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra) và cơ sở pháp lý (các quy phạm pháp luật hình sự thực định).
  6. Hình thức thể hiện chính thức là văn bản áp dụng pháp luật hình sự thuộc loại văn bản bảo vệ pháp luật (bản án của Tòa án, quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra).

Đồng thời, luận án chỉ ra 3 đặc điểm riêng biệt của áp dụng pháp luật hình sự:

  1. Nội dung là sự áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất của nhà nước (hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự) đối với người phạm tội.
  2. Là hình thức duy nhất để thực hiện pháp luật hình sự khi quan hệ pháp luật hình sự phát sinh.
  3. Là hoạt động thực tiễn pháp lý xuất hiện sớm trong lịch sử và đóng vai trò trung tâm trong việc bảo đảm sức mạnh cưỡng chế của quyền lực nhà nước.

Về nội dung, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự bao gồm hai hoạt động cơ bản:

  • Định tội danh: Bản chất là quá trình nhận thức nhằm xác nhận sự phù hợp đầy đủ và chính xác giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể quy định trong Bộ luật Hình sự. Cấu thành tội phạm gồm 4 yếu tố (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) là cơ sở khoa học của định tội danh và được cụ thể hóa thành đối tượng chứng minh tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, đồng thời loại trừ các trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 15) và tình thế cấp thiết (Điều 16).
  • Quyết định hình phạt: Là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng đối với người phạm tội trong bản án. Theo Điều 45 Bộ luật Hình sự năm 1999, việc quyết định hình phạt phải căn cứ đồng thời vào 4 nhóm yếu tố:
    1. Các quy định của Bộ luật Hình sự (phần chung và phần các tội phạm).
    2. Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện.
    3. Nhân thân người phạm tội (phạm tội lần đầu, tái phạm, nhân thân tốt hoặc xấu...).
    4. Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 46, Điều 48), tuân thủ nguyên tắc không dùng một tình tiết nhiều lần với nhiều tác dụng khác nhau.
Tiêu chí phân tích Định tội danh Quyết định hình phạt
Bản chất pháp lý Nhận thức và xác nhận sự phù hợp giữa hành vi thực tế với cấu thành tội phạm (định tính hành vi) Lựa chọn loại và mức hình phạt hoặc biện pháp trách nhiệm hình sự cụ thể (định lượng trách nhiệm)
Cơ sở khoa học/pháp lý 4 yếu tố cấu thành tội phạm và các quy định định tội trong Bộ luật Hình sự Điều 45 Bộ luật Hình sự năm 1999 (quy định pháp luật, tính chất nguy hiểm, nhân thân, tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ)
Chủ thể có thẩm quyền Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Duy nhất Tòa án nhân dân
Giai đoạn tố tụng Thực hiện xuyên suốt từ điều tra, truy tố đến xét xử (giai đoạn xét xử mang tính quyết định) Thực hiện tại giai đoạn xét xử của Tòa án (sau khi đã hoàn thành việc định tội danh)

Chương 2: Thực trạng hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam

Chương 2 khái quát bức tranh thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 2007, phân tích chi tiết dữ liệu thực tiễn 10 năm (1997 - 2007).

Nội dung chương tập trung đánh giá toàn diện các mặt đạt được:

  • Hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng các quy định của pháp luật hình sự để điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh số lượng lớn các vụ án hình sự, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của công dân.
  • Hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt từng bước được chuẩn hóa, bám sát các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
  • Từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử cho Tòa án cấp huyện và tăng cường tỷ lệ Thẩm phán chuyên trách trong Hội đồng xét xử.

Bên cạnh đó, chương chỉ ra những hạn chế, sai lầm thực tiễn:

  • Hiện tượng định tội danh sai, áp dụng sai khung hình phạt dẫn đến việc xử lý oan người không có tội hoặc bỏ lọt tội phạm.
  • Việc áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt trong một số vụ án chưa đồng bộ; tình trạng đánh giá thiếu chính xác về nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự dẫn đến hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ.
  • Tác giả phân tích các nguyên nhân của hạn chế: sự thiếu đồng bộ và những điểm chưa rõ ràng trong kỹ thuật lập pháp hình sự; trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán còn bất cập; cơ chế phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực sự tối ưu.

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp đảm bảo hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Chương 3 xác lập hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự dựa trên các quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020:

  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật: Tiếp tục hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự và tố tụng hình sự; nâng cao kỹ thuật lập pháp trong việc mô tả cấu thành tội phạm, rà soát và chuẩn hóa khung hình phạt, các quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt và các biện pháp tư pháp.
  • Nhóm giải pháp về tố tụng và tranh tụng: Tăng cường tính tranh tụng dân chủ tại phiên tòa xét xử; chuyển trọng tâm của hoạt động tư pháp sang giai đoạn xét xử; bảo đảm việc ra bản án của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa.
  • Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy và cán bộ: Hoàn thiện cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán; nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp của đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán; tiếp tục mở rộng hợp lý thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện.
  • Nhóm giải pháp bảo đảm điều kiện thực thi: Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và chế độ đãi ngộ cho cán bộ các cơ quan tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm trong tình hình mới.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại những đóng góp mới cụ thể về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  • Về lý luận: Đặt nền móng nghiên cứu chuyên khảo liên ngành toàn diện về hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của cả ba thiết chế Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học. Luận giải rõ nét bản chất, đặc trưng của áp dụng pháp luật hình sự, phân biệt hoạt động này với áp dụng pháp luật trong các lĩnh vực phi hình sự.
  • Về chức năng và cơ chế: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động áp dụng pháp luật hình sự với việc thực hiện ba chức năng điều tra, truy tố, xét xử khi thực thi quyền lực nhà nước; làm rõ mối liên hệ giữa pháp luật hình thức (tố tụng) và pháp luật nội dung (vật chất) trong việc định hình các nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự.
  • Về thực tiễn và giải pháp: Khái quát có hệ thống thực trạng áp dụng pháp luật hình sự tại Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2007; chỉ ra các nguyên nhân căn bản của các sai lầm trong định tội danh và lượng hình; đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, phục vụ trực tiếp cho Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt dữ liệu, do nguồn tư liệu lưu trữ của các giai đoạn lịch sử trước đây không đồng đều và thiếu thống nhất, một số giai đoạn lịch sử ban đầu (đặc biệt là giai đoạn ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945) bị khuyết thiếu số liệu thống kê đầy đủ. Về mặt phạm vi, luận án chỉ tập trung vào ba cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và chưa mở rộng nghiên cứu giai đoạn thi hành án hình sự.

Hướng nghiên cứu tiếp có thể mở rộng khảo sát hoạt động áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn thi hành án hình sự, hoặc nghiên cứu chuyên sâu việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân khi pháp luật hình sự có sự sửa đổi, bổ sung trong tương lai.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về áp dụng pháp luật, lý luận định tội danh và quyết định hình phạt thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật cũng như Luật hình sự và Tố tụng hình sự.
  • Cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Cung cấp các căn cứ phương pháp luận chuẩn xác để tránh sai lầm trong việc xác định cấu thành tội phạm, đánh giá nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi định tội và lượng hình.
  • Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và triển khai các đề án cải cách tư pháp.

Câu hỏi thường gặp

1. Áp dụng pháp luật hình sự có những đặc điểm riêng biệt nào so với áp dụng pháp luật trong lĩnh vực dân sự, kinh tế? Áp dụng pháp luật hình sự có 3 đặc điểm riêng biệt: (1) Nội dung áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất của nhà nước (hình phạt) đối với người phạm tội; (2) Là hình thức duy nhất để thực hiện pháp luật hình sự khi phát sinh quan hệ pháp luật hình sự (các bên không thể tự thỏa thuận hay tự thi hành như trong lĩnh vực dân sự); (3) Thể hiện tập trung quyền lực cưỡng chế đơn phương của nhà nước theo các thủ tục tố tụng nghiêm ngặt nhất.

2. Vai trò của cấu thành tội phạm trong hoạt động định tội danh là gì? Cấu thành tội phạm là một phạm trù của khoa học pháp lý phản ánh mô hình tội phạm trong luật. Cấu thành tội phạm không phải là quy phạm pháp luật thực định mà là cơ sở khoa học để định tội danh. Hoạt động định tội danh thực chất là quá trình chứng minh hành vi nguy hiểm cho xã hội trên thực tế có đồng nhất đầy đủ với 4 yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) hay không.

3. Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải tuân thủ những căn cứ bắt buộc nào theo Điều 45 Bộ luật Hình sự năm 1999? Tòa án phải căn cứ đồng thời vào 4 yếu tố: (1) Các quy định của Bộ luật Hình sự (cả phần chung và phần các tội phạm); (2) Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm; (3) Nhân thân người phạm tội; (4) Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự).

4. Vì sao áp dụng pháp luật là hình thức duy nhất để thực hiện pháp luật khi phát sinh quan hệ pháp luật hình sự? Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa nhà nước và người thực hiện hành vi phạm tội. Khi tội phạm xảy ra, quyền và nghĩa vụ pháp lý không thể tự động phát sinh hay tự thực hiện; người phạm tội không thể tự nhận tội và tự thi hành hình phạt nếu không có sự can thiệp của các cơ quan công quyền chuyên biệt thông qua hoạt động điều tra, truy tố, xét xử theo trình tự tố tụng hình sự.

5. Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn như thế nào? Luận án giới hạn nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của 3 cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong quá trình thực hiện chức năng điều tra, truy tố, xét xử. Luận án loại trừ giai đoạn thi hành án hình sự; khảo cứu thực tiễn từ năm 1945 đến năm 2007 và tập trung phân tích số liệu thống kê chi tiết trong 10 năm (1997 - 2007).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Chu Thị Trang Vân là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam dưới góc độ khoa học pháp lý liên ngành. Tác giả đã làm sáng tỏ bản chất, đặc trưng, nội dung định tội danh, quyết định hình phạt và các giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự trong mối liên hệ với các chức năng tố tụng. Thông qua việc đánh giá thực trạng thực tiễn từ năm 1945 đến năm 2007, luận án đã chỉ ra các nguyên nhân hạn chế và xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự, đáp ứng trực tiếp các yêu cầu của Chiến lược cải cách tư pháp tại Việt Nam.