CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Nhân lực và quản trị nhân lực. Nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công của một tổ chức, xã hội. Để phát triển nguồn nhân lực cần thực hiện nhiều biện pháp khác nhau trong đó có việc nghiên cứu đánh giá nguồn nhân lực, từ đó đưa ra các giải pháp để thúc đẩy hiệu quả công việc.
Để làm tốt vấn đề này, trước tiên ta cần phải hiểu “Nguồn nhân lực là gì?” Nguồn nhân lực: Hiện nay, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “Nguồn nhân lực”: - “Nguồn nhân lực” là nguồn lực con người của tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới (1) Xem: Nicholas Henry - Public Administration and Public afairss Tr.256 - “Nguồn nhân lực” là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức (2) Xem: George T.Milkovich and John W.Boudreau – Human resourses management, Tr. Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo giác độ tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy nguồn nhân lực là: + Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phương nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai. Đấy là những câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực phải dựa trên nhu cầu thực tế công việc tại tổ chức.
+ Chất lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm HV: Nguyễn Thị Hằng Nga 3 Lớp CH QTKD 11A-112 Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sĩ mỹ… của người lao động. Trong hai yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá nguồn nhân lực; + Cơ cấu nhân lực: Đây là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: Cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi … Tóm lại, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai. Quản trị nhân lực Quản trị nguồn nhân lực là một bộ phận quan trọng trong quản lý một tổ chức.
Quản trị nguồn nhân lực vừa là nghệ thuật vừa là khoa học làm cho những mong muốn của tổ chức và mong muốn của nhân viên thuộc tổ chức tương hợp với nhau và cùng đạt đến mục tiêu. Quản trị nguồn nhân lực là những hoạt động theo một quy trình, mà các nhà quản trị nhân sự của tổ chức tiến hành triển khai sắp xếp nhân lực nhằm đạt mục tiêu chiến lược và định hướng của tổ chức. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, Quản trị nguồn nhân lực là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nguồn nhân lực thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng của tổ chức. Mục tiêu của Quản trị nhân lực Mục tiêu của quản trị nhân lực là nhằm cung cấp cho đơn vị, tổ chức một lực lượng lao động có hiệu quả.
Để đạt được mục tiêu này các nhà quản trị phải biết cách tuyển dụng, phát triển, đánh giá, và duy trì nhân viên của mình. Quản trị nhân lực giúp tìm kiếm và phát triển các hình thức, phương pháp tốt nhất để người lao động có thể đóng góp nhiều sức lực cho việc đạt được các mục tiêu của tổ chức cũng như tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân người lao động. Để tực hiện được mục đích đó, quản trị nhân sự phải nhằm vào thực hiện bốn mục tiêu cơ bản sau: HV: Nguyễn Thị Hằng Nga 4 Lớp CH QTKD 11A-112 Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sĩ - Mục tiêu xã hội: Đơn vị, tổ chức phải đáp ứng được nhu cầu của xã hội, một tổ chức hoạt động phải vì lợi ích của cả xã hội chứ không phải lợi ích của riêng mình. - Mục tiêu thuộc về tổ chức: Quản trị nhân sự là tìm cách thích hợp để các bộ phận cũng như toàn bộ doanh nghiệp có được những người làm việc có hiệu quả.
Đó là một phương tiện giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu. - Mục tiêu cá nhân: Nhà quản trị phải giúp nhân viên mình đạt được các mục tiêu cá nhân của họ. Nhà quản trị phải nhận thức rằng nếu lãng quên mục tiêu cá nhân của nhân viên, hiệu quả công việc sẽ giảm, và nhân viên có thể sẽ rời bỏ tổ chức. Tầm quan trọng của Quản trị nhân lực: Trọng tâm của quản trị nhân lực giải quyết mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức và giúp thoả mãn các nhu cầu của người lao động.
Quản trị nhân lực là một lĩnh vực quản trị quan trọng của mọi tổ chức nói riêng và quản trị kinh doanh nói chung. Quản trị nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức và giúp cho các tổ chức tồn tại và phát triển. Tầm quan trọng của quản trị nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người. Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định sự thành bại của tổ chức.
Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu trong tổ chức nên Quản trị nhân lực chính là một lĩnh vực quan trọng của quản lý tổ chức. Mặt khác, quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu tổ chức không quản lý tốt nguồn nhân lực, bởi xét cho cùng mọi sự quản lý đều thực hiện bởi con người. Để quản lý được, nhất là quản lý tốt thì trước hết cần phải hiểu sâu sắc về con người như cấu tạo thể chất, những nhu cầu, các yếu tố năng lực, các quy luật tham gia hoạt động và quy luật tích cực sáng tạo trong hoạt động; sau đó phải đào luyện về công nghệ (phương pháp, cách thức) tác động đến con người. Khi quản lý con người cần quan tâm đến thứ tự ưu tiên các nhu cầu đa dạng của họ: Nhu cầu thu nhập, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu được coi là quan trọng, được tôn trọng; nhu cầu được vận động, được quan hệ với mọi người, được thể hiện trước người khác; nhu cầu được phát triển, được thăng tiến.
Các nhu cầu đó thay đổi có HV: Nguyễn Thị Hằng Nga 5 Lớp CH QTKD 11A-112 Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sĩ tính quy luật theo hướng ngày càng đa dạng với chất lượng ngày càng cao, tỷ trọng nhu cầu tinh thần ngày càng lớn. Ngoài ra khi thiết kế và thực thi phương án thu hút, sử dụng con người cần hiểu biết, xét nhu cầu động cơ hoạt động và tính cách của từng nhóm người, của từng con người cụ thể. Các hoạt động chủ yếu của quản trị nhân lực. Hoạt động quản trị nguồn nhân lực liên quan đến tất cả các vấn đề thuộc quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động nhằm đạt được hiệu quả cao cho cả tổ chức lẫn người lao động.
Trong thực tiễn, những hoạt động này rất đa dạng, phong phú và rất khác biệt tùy theo các đặc điểm về cơ cấu tổ chức, công nghệ kỹ thuật, nhân lực, tài chính, trình độ phát triển ở các tổ chức. Hầu như tất cả các tổ chức đều phải thực hiện các hoạt động cơ bản như: xác định nhu cầu người lao động , lập kế hoạch tuyển dụng, bố trí nhân viên, đào tạo, khen thưởng, kỷ luật nhân viên, trả công, v.v… Tuy nhiên có thể phân chia các hoạt động chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực theo ba nhóm chức năng chủ yếu sau đây: - Nhóm chức năng thu hút nhân lực - Nhóm chức năng đào tạo và phát triển nhân lực - Nhóm chức năng duy trì nhân lực 1. Nhóm chức năng thu hút nhân lực. Dựa vào chiến lược, kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý cần xây dựng các chiến lược nhân lực, xác định nhu cầu trong từng thời kỳ, giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.
Từ đó phân tích, thiết kế, đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tạo môi trường làm việc thuận lợi, thu hút các đối tượng lao động có trình độ chuyên môn cao, thái độ làm việc đúng mực, tham gia và gắn bó với sự nghiệp phát triển của doanh nghiệp. Nhóm chức năng này bao gồm các hoạt động kế hoạch hóa nhân lực, phân tích công việc, tuyển dụng và bố trí nhân lực. Cụ thể như sau: 1, Kế hoạch hoá nguồn nhân lực. Kế hoạch hoá nguồn nhân lực nghiên cứu các hoạt động dự báo nhu cầu về HV: Nguyễn Thị Hằng Nga 6 Lớp CH QTKD 11A-112 Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sĩ nhân lực của tổ chức và hoạch định những bước tiến hành để đáp ứng đủ về số lượng, đúng về chất lượng lao động cần thiết đáp ứng kịp thời các kế hoạch hoạt động.
Để thực hiện cần có các giải pháp tuyển dụng, thuyên chuyển, sắp xếp nhân lực cho phù hợp Vai trò của công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực là bước khởi điểm, tiên quyết cho thành công của hoạt động quản trị nhân lực. 2, Thiết kế và phân tích công việc. Thiết kế và phân tích công việc vạch rõ những nhiệm vụ và trách nhiệm thuộc về công việc và mối quan hệ của nó đối với những công việc khác, kiến thức và kỹ năng cần thiết, những điều kiện làm việc cần thiết để hoàn thành nó. Thiết kế công việc là xác định các công việc mà một người lao động hoặc một nhóm người lao động phải làm, xác định điều kiện thực hiện.
Phân tích công việc là tìm hiểu, thu thập thông tin liên quan tới người lao động thực hiện công việc cụ thể như thế nào, nhằm làm rõ bản chất của công việc đó.