CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA QUỸ TÍN DỤNG 1. Lý luận chung về hoạt động tín dụng của quỹ tín dụng 1. Khái niệm về quỹ tín dụng nhân dân Nước ta là một nước nông nghiệp nên nông nghiệp và nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Để thực hiện Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Nhà nước đã có nhiều cố gắng mở rộng hoạt động của các NHTM và một số biện pháp hỗ trợ tín dụng khác nhưng khu vực nông thôn vẫn thiếu vốn trầm trọng và người nông dân chưa được tiếp cận thường xuyên liên tục. Thông qua hoạt động của QTDND các thành viên có điều kiện thuận lợi để vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết vấn đề việc làm cho người nông dân, đồng thời thúc đẩy việc khôi phục và mở rộng các ngành nghề truyền thống và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn. Hệ thống QTDND được thành lập vào 27 tháng 03 năm 1993 theo quyết định số 390/TTG của Thủ tướng chính phủ với mục tiêu hình thành một hệ thống tín dụng nông nghiệp nông thôn đủ mạnh để cung cấp các dịch vụ ngân hàng trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm. Đồng thời, QTDND còn có nhiệm vụ quan trọng trong việc huy động và đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tiêu dùng trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn.
Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức hợp tác, hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng và luật hợp tác xã, theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh tập thể, giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Đồng thời, quỹ tín dụng nhân dân phải đảm bảo bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển. QTD là mô hình gần gũi nhất với những địa phương có những cá nhân, hộ nông dân cũng như doanh nghiệp nhỏ hoạt động trên địa bàn. Tuy các dịch vụ trong quỹ không đa dạng như NHTM nhưng nó có thể đáp ứng được những nghiệp vụ tín dụng của các địa phương cũng như hoạt động huy động vốn.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phùng Việt Hà 1. Khái niệm về hoạt động tín dụng tại quỹ tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của các tổ chức tín dụng và quỹ tín dụng nhân dân không nằm ngoài điều đó; nó là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho quỹ tín dụng. Trong hoạt động này quỹ tín dụng nhường quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong khoảng thời gian nhất định với những nguyên tắc và điều kiện nhất định về lãi, thời gian hoàn trả, tài sản đảm bảo… Hoạt động tín dụng cấp cho khách hàng để mở rộng sản xuất chăn nuôi, kinh doanh nhỏ lẻ, tiêu dùng… 1.
Hoạt động tín dụng của quỹ tín dụng - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn của thành viên và ngoài thành viên. - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được vay vốn của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, vay vốn của các tổ chức tín dụng không phải là Quỹ tín dụng nhân dân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cho vay đối với thành viên và các hộ nghèo không phải là thành viên trong địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Việc cho vay hộ nghèo thực hiện theo Điều lệ của Quỹ tín dụng nhân dân, nhưng tỷ lệ dư nợ cho vay đối với hộ nghèo so với tổng dư nợ không được vượt quá tỷ lệ do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định.
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được cho vay những khách hàng có gửi tiền tại Quỹ tín dụng nhân dân dưới hình thức cầm cố sổ tiền gửi do chính Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đó phát hành. - Việc lập hồ sơ và thủ tục cho vay, xét duyệt cho vay, kiểm tra việc sử dụng tiền vay, chấm dứt cho vay, xử lý nợ, điều chỉnh lãi suất và lưu giữ hồ sơ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phải thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. - Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thực hiện các hoạt động tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Cơ sở lí luận về chất lượng tín dụng 1.
Khái niệm Trong bất kỳ nền kinh tế cạnh tranh nào cá nhân hay tổ chức kinh doanh nào muốn đứng vững thì phải cải thiện chất lượng kinh doanh là một tất yếu. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phùng Việt Hà Các tổ chức tín dụng nói chung và quỹ tín dụng nhân dân nói riêng cũng là một tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế với mặt hàng đặc biệt là tiền tệ. Chính vì thế không lý do gì mà quỹ tín dụng lại không quan tâm đến chất lượng kinh doanh của mình.
Một trong những hoạt động cơ bản của quỹ tín dụng là tín dụng. Vậy chất lượng tín dụng là gì ? Chất lượng tín dụng là sự thỏa mãn yêu cầu hợp lý, hợp pháp của khách hàng. Đồng thời, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội theo con đường đổi mới đất nược và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của quỹ tín dụng. Đơn giản hơn chính là vốn cho khách hàng vay được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh hợp lý tạo ra một số tiền lớn thông qua đó ngân hàng thu được cả gốc và lãi đúng thời hạn, bù đắp được chi phí và có lợi nhuận.
Chất lượng tín dụng được thể hiện qua nhiều tiêu chí khác nhau như: mức độ an toàn vốn, mức độ thích nghi của QTD với sự thay đổi của môi trường kinh tế, khả năng thu hút khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện. Ngoài ra chất lượng tín dụng còn thể hiện qua hiệu quả hoạt động các dự án vay vốn sản xuất kinh doanh, tình trạng xóa đói giảm nghèo và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng 1. Chỉ tiêu định tính Có thể nói thước đo chất lượng tín dụng của một TCTD chính là sự hài lòng của khách hàng, đồng thời TCTD cũng phải đảm bảo hài hoà với an toàn và đạt hiệu quả tín dụng cao nhất.
Trước hết, chất lượng tín dụng của TCTD phụ thuộc vào uy tín của TCTD đó. Nếu một TCTD có uy tín thì sẽ có khả năng thu hút được nhiều khách hàng hơn. Chất lượng tín dụng còn thể hiện ở khả năng đáp ứng tốt các nhu cầu của khách hàng, làm hài lòng khách hàng bằng việc rút ngắn quy trình, thủ tục cho vay, đảm bảo cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời và an toàn. Nhờ đó khách hàng sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí đi lại.
Tuy nhiên, đó mới chỉ là những yêu cầu ban đầu, trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay đang không ngừng phát triển cùng với sự hội nhập kinh tế quốc tế nên sự cạnh tranh giữa các TCTD ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi các TCTD cần phải có những chuyển biến trong hoạt động kinh doanh đa đạng hơn, năng động hơn nữa thì mới có thể thích nghi với sự thay đổi của môi 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phùng Việt Hà trường trong nước và ngoài nước. Có như thế các TCTD mới có thể tồn tại và phát triển, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng lên cả về chất và lượng của khách hàng. Thứ hai, để có chất lượng tín dụng tốt thì phải đảm bảo sự tồn tại và phát triển của TCTD.
Nói cánh khác hoạt động tín dụng phải mang lại cho TCTD thu nhập đủ trang trải các chi phí liên quan và có lãi, hạn chế thấp nhất nguy cơ rủi ro. Một khoản tín dụng có thể coi là hiệu quả khi các nguyên tắc cho vay được tuân thủ triệt để: sử dụng vốn vay đúng mục đích có hiệu quả kinh tế cao, hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn. Việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tín dụng vừa là điều kiện cần vừa là những biểu hiện cho thấy chất lượng tín dụng tốt. Sử dụng vốn vay đúng mục đích là một trong những điều kiện đảm bảo sự tồn tại và phát triển của TCTD.
Thứ ba, hoạt động tín dụng phải đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển của kinh tế- xã hội của vùng, địa phương và đất nước. Tóm lại, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp được đánh giá trên quan điểm của cả ba chủ thể: TCTD, khách hàng và môi trường kinh tế- xã hội. Các chỉ tiêu định tính chỉ là căn cứ đánh giá chất lượng tín dụng một cách khái quát. Để có những kết luận chính xác hơn nữa cần phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến kết quả hoạt động cho vay của TCTD.
Các chỉ tiêu định lượng Quy mô kết cấu nguồn vốn huy động Quy mô kết cấu nguồn vốn huy động là số lượng vốn mà TCTD huy động được tại thời điểm xem xét đánh giá. Kết cấu nguồn vốn huy động là tỷ trọng vốn huy động chia theo thời gian, lãi suất, đơn vị tiền tệ…trong tổng nguồn vốn huy động. Việc tập trung nguồn vốn lớn, kết cấu hợp lý về thời hạn, lãi suất, đơn vị tiền tệ sẽ đảm bảo cho mỗi TCTD có khả năng tự chủ về vốn, lãi suất, có khả năng mở rộng đầu tư tín dụng để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Chính vì vậy, đây là chỉ tiêu gián tiếp đánh giá chất lượng tín dụng.
Doanh số cho vay Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà TCTD đã phát ra cho vay trong một khoảng thời gian nào đó, không kể món cho vay đó đã thu hồi hay chưa. Doanh số cho vay thường được xác định theo tháng, quý, năm. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phùng Việt Hà Doanh số cho vay là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tất cả số tiền TCTD cho khách hàng vay trong một thời gian nhất định thường là một năm.
Bên cạnh đó, thấy được khả năng hoạt động cho vay qua các năm, do đó có thể thấy được khả năng mở rộng cho vay.