CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG CÁ NHÂN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về tín dụng cá nhân Tín dụng ngân hàng Tín dụng là một khái niệm để chỉ mối quan hệ kinh tế giữa bên cho vay và bên đi vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định.
Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn giữa một bên là ngân hàng và bên kia là các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước trong thời gian nhất định theo những điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận về thời gian, phương thức thanh toán, thế chấp. Theo khoản 14, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Như vậy, hoạt động tín dụng ngân hàng bao gồm: cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu, thương phiếu. Ngân hàng giao tiền trực tiếp hoặc qua tài khoản cho khách hàng sử dụng số tiền vay đó nhưng yêu cầu khách hàng phải sử dụng theo đúng mục đích và thời gian đã thống nhất và kí kết hợp đồng với ngân hàng.
Theo hợp đồng NH phải cung cấp tiền cho khách hàng đủ và đúng thời gian quy định và theo đó khách hàng phải đảm bảo trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn. Tín dụng cá nhân Căn cứ vào chủ thể vay vốn, tín dụng có thể chia làm 3 loại: tín dụng cá nhân, tín dụng doanh nghiệp và tín dụng cho các tổ chức tài chính. Trong bài luận văn này, tập trung vào đối tượng chủ thể là khách hàng cá nhân. 4 Khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể, vì thế tín dụng cá nhân là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM giao quyền sử dụng nguồn vốn của mình cho khách hàng cá nhân một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Đặc điểm của tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại. Ngoài những đặc tính tổng quát của tín dụng ngân hàng, tín dụng cá nhân còn có những nét riêng như sau: Khoản vay có giá trị nhỏ nhưng số lượng các khoản cho vay lớn. Mục đích của các khoản vay cá nhân chủ yếu như sau: Thứ nhất, cá nhân vay vốn đề đáp ứng nhu cầu phục vụ đời sống, chi tiêu hằng ngày. Các khoản vay này phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cho cuộc sống như sửa chữa nhà cửa, mua xe ô tô, vay du học,.Thứ hai, khách hàng cá nhân vay với mục đích bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất và kinh doanh với quy mô nhỏ.
Vì khoản vay chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của cá nhân hoặc hộ gia đình nên quy mô khoản vay thường có giá trị nhỏ, so với các khoản vay của các doanh nghiệp thì khoản vay này nhỏ hơn rất nhiều lần. Tuy nhiên, sô lượng khách hàng thì lại đông đảo nhất vì đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội từ những người có thu nhập thấp, trung bình và đến cao. Thêm nữa là, khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí ngày càng nâng cao, người dân có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống. Rủi ro bất cân xứng thông tin Khi thẩm định cho vay thì thông tin về khách hàng là một yếu tố vô cùng quan trọng để cán bộ tín dụng có thể ra quyết định cho vay bên cạnh sự hợp lý và hợp pháp về nhu cầu vốn và khả năng trả nợ.
Đối với khách hàng là các tổ chức hay doanh nghiệp, ngân hàng có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin về khách hàng do có nhiều nguồn thông tin công khai như: báo cáo tài chính, thông tin xếp hạng tín dụng, uy tín thanh toán,. Trong khi đó, đối với khách hàng cá nhân, thông tin ngân hàng có chủ yếu do khách hàng tự cung 5 cấp gồm: thông tin lý lịch, đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ,.vì thế việc đánh giá khách hàng thường khó chính xác. Tín dụng cá nhân gây tốn kém chi phí. Số lượng các khoản TDKDCN là nhiều, nhưng giá trị mỗi khoản vay lại tương đối nhỏ, để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân, ngân hàng thường tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc vào hoạt động thẩm định và giám sát khoản vay một cách nghiêm ngặt.
Bên cạnh đó còn kèm theo các chi phí liên quan như chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại, công tác hỗ trợ chi phí nhân viên,. Lãi suất thường cao hơn so với các loại khoản vay khác. Do quy mô của các khoản vay thường không lớn nhưng chi phí bỏ ra quản lý lại rất lớn nên các NHTM phải đề ra mức lãi suất cao để bù đắp chi phí (gồm chi phí về thời gian, nhân lực, quản lý, thẩm định,…). Ngoài ra còn có một số đặc điểm khác như: đối tượng của tín dụng cá nhân là thể nhân (bao gồm cá nhân và hộ gia đình), quy trình thủ tục vay đơn giản hơn và các sản phẩm đa dạng hơn.
Vai trò tín dụng cá nhân. Đối với nền kinh tế: Thứ nhất, góp phần tạo sự năng động cho các thành phần kinh tế Tín dụng cá nhân là kênh hỗ trợ vốn để dân chúng trang trải các chi phí phát sinh trong cuộc sống từ thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cho đến nhu cầu xa xỉ với chi phí đắt đỏ, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, buộc các doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề trong xã hội phải đẩy mạnh sản xuất. Thứ hai, góp phần tạo sự ổn định về mặt xã hội Là một phần của tín dụng nói chung, tín dụng cá nhân cũng có vai trò tích cực đối với xã hội.
Tín dụng cá nhân góp phần khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi lưu thông các nguồn vốn này một cách trôi chảy, có hiệu quả, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao. 6 Đối với ngân hàng Một là, góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng Do có đối tượng rất rộng nên việc phát triển tín dụng cá nhân sẽ giúp hình ảnh thương hiệu của ngân hàng sẽ được phổ biến rộng khắp. Nhờ vào tín dụng cá nhân, ngoài việc cấp tín dụng cho khách hàng, còn giúp ngân hàng dễ dàng trong việc bán chéo sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ như: tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán, chuyển lương qua tài khoản, phát hành – thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử. Hai là, góp phần phân tán rủi ro cho ngân hàng Nếu ngân hàng chỉ tập trung cho vay các khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, vì lý do nào đó mà hoạt động kinh doanh của các khách hàng doanh nghiệp này gặp khó khăn gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ làm hoạt động kinh doanh của ngân hàng gặp trở ngại.
các ngân hàng phát triển tín dụng cá nhân như một sự phân tán rủi ro vì với số lượng khách hàng lớn, số tiền vay ít thì khi có một khách hàng hoặc một số ít khách hàng gặp rủi ro dẫn đến không có khả năng trả nợ thì ít gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với khách hàng Tín dụng cá nhân giúp cho các khách hàng linh hoạt hơn trong việc giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu bản thân. Thay vì phải tích lũy đủ vốn ở hiện tại để thực hiện kế hoạch của bản thân, người tiêu dùng sẽ phối hợp giữa thỏa mãn nhu cầu ở hiện tại với khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai. Nghĩa là họ sẽ tiêu dùng trước bằng cách vay vốn ngân hàng rồi tích lũy và hoàn trả sau cho ngân hàng.
Ngoài ra tín dụng cá nhân còn là một kênh các NHTM tài trợ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh cho các hộ gia đình giúp họ có điều kiện sản xuất. Với điều kiện cấp tín dụng đơn giản hơn so với doanh nghiệp, tín dụng cá nhân phù hợp với hình thức kinh doanh nhỏ lẻ, phù hợp với đặc tính và tập quán kinh doanh của đối tượng này. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Một sản phẩm hay dịch vụ muốn tồn tại lâu dài trên thị trường cần hội tụ đầy đủ 3 yếu tố: chất lượng, giá cả và số lượng.
Đối với dịch vụ ngân hàng cũng như vậy, trong đó, chất lượng được coi là tiêu chí quan trọng nhất đối với nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng.Ederwards Deming ( 1982) “chất lượng chính là việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng” hay theo Philip B.Crosby ( 1979) thì chất lượng là “làm đúng theo yêu cầu”.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lượng là "Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có". Như vậy, chất lượng ngân hàng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Vì thế chất lượng tín dụng nói chung hay chất lượng tín dụng cá nhân nói riêng cần được xét trên ba góc độ: Chất lượng tín dụng được nhìn dưới góc độ ngân hàng, chất lượng tín dụng thể hiện ở quy mô, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng và đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường đảm bảo nguyên tắc hoàn trả gốc lãi đúng hạn. Xét trên góc độ lợi ích khách hàng, tín dụng có chất lượng là thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng về: lãi suất, kỳ hạn, thủ tục, phương thức giải ngân,.