LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong xu thế phát triển của nền kinh tế toàn cầu, hệ thống Ngân hàng thƣơng mại ngày càng đón vai trò quan trọng trong việc định hƣớng phát triển cho nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả là tiền đề kích thích tăng trƣởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền và tạo công ăn việc làm ổn định. Tuy nhiên song song với quá trình phát triển là sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng.
Để tạo ra đƣợc lợi thế cạnh tranh, các ngân hàng phải đƣa ra những chiến lƣợc hiệu quả, hoạch định hƣớng đi riêng để tối đa hóa lợi nhuận và gây dựng hình ảnh, vị thế cho riêng mình. Muốn tạo lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh thì việc nắm bắt thị trƣờng là rất quan trọng. Tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu và đem lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Bên cạnh tín dụng doanh nghiệp thì tín dụng cá nhân đã và đang đóng góp một phần đáng kể vào doanh thu của ngân hàng.
Thực tế tại ngân hàng Quân Đội MB chi nhánh Xuân Mai, tín dụng cá nhân đóng góp 70% tổng doanh thu hoạt động tín dụng của ngân hàng và nếu khai thác hiệu quả lĩnh vực này chắc chắn sẽ đem lại lợi ích to lớn hơn nữa. Tuy nhiên bên cạnh lợi ích thì tín dụng cá nhân cũng đem lại rủi ro nợ xấu không hề nhỏ cho ngân hàng. Vì vậy làm thế nào để cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro tín dụng cá nhân đem lại? Nhận thức đƣợc tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề trên, “Nâng cao chất lƣợng tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Quân đội MB chi nhánh Xuân Mai” sẽ là một đề tài góp phần nâng cao chất lƣợng tín dụng cá nhân nói riêng cũng nhƣ hoạt động kinh doanh của ngân hàng Quân Đội MB Xuân Mai nói chung trong thời gian tới. Các nghiên cứu trƣớcđây 2.
Các nghiên cứu nƣớc ngoài Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về chất lƣợng tín dụng, điều đó cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này đối với hệ thống ngân hàng nói chung và nền kinh tế nói riêng. Một số nghiên cứu tiêu biểu đƣợc đƣa ra nhƣ sau: Các tác giả Allen N.Calern& Michale laCour (2001) đƣa ra những luận điểm rất hữu ích đề cập đến mối quan hệ giữa tài sản đảm bảo và chất lƣợng tín dụng cũng nhƣ rủi ro ngân hàng, đây cũng là một nội dung hình thành lên hiệu quả HĐTD của một NHTM. Các nghiên cứu làm 1 rõ luận diểm rủi ro cũng nhƣ những yêu cầu về tài sản thế chấp, theo đó tài sản thế chấp là yêu cầu cơ bản với các khoản cho vay. Với nghiển cứu này sẽ giúp tác giả vận dụng những quan điểm về tài sản thế chấp cũng nhƣ mối quan hệ giữa chất lƣợng khoản vay, rủi ro chi vay với tài sản thế chấp từ đó đánh giá đƣợc hiểu quả HĐTD dựa trên chất lƣợng tài sản thế chấp.
Stephan Cowan, Glen Bullivant & Robert Addlestone (2004) đã đƣa ra kết luận việc quản lý trong HĐTD yếu kém khiến cho nợ xấu tăng cao là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm hiệu quả của các ngân hàng co dù có thể các ngân hàng này vẫn đang đƣợc đánh giá là có hiệu quả tốt. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng vấn đề quan trọng là các nggan hàng phải luôn duy trì đƣợc mức dộ rủi ro cho vay thấp nhất đồng thời phải có các biện pháp hữu hiệu cũng nhƣ cách thức để thu hồi nợ tốt nhất. Nghiên cứu cũng nêu ra những vấn đề về mặt pháp lý mới nhất có liên quan nhƣ: những điều chỉnh của pháp luật về thu hồi nợ, các thủ tục liên quan đến khách hàng khi không trả đƣợc nợ vay hoặc phá sản, các hƣớng dẫn về cho vay và kiểm soát cho vay nhƣ: các hƣớng dẫn cho vay đối với các khách hàng mới, cách thức giải quyết các vấn đề về duy trì cũng nhƣ nâng các hạn mức cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ, các điều kiện thu hút khách hàng lớn …Các nội dung trong nghiên cứu của cuốn sách ít nhiều đã phân tích các nội dung ảnh hƣởng đến hiệu quả về HĐTD của ngân hàng.G (2003) từ việc nghiên cứu hoạt động ngân hàng tại Venezuela tác giả đã nêu ra các yếu tố làm cho hiệu quả HĐTD thấp là do lợi nhuận thấp hay lãi ròng trong kinh doanh thấp, đối với mỗi ngân hàng để xảy ra vấn đề trên thì đó là sự thất bại trong hoạt động ngân hàng. Phân tích điều này có thể thấy sự thất bại đầu tiên do chính ngân hàng ngoài ra cũng do sự tác động của các yếu tố vĩ mô ngoài tầm kiểm soát hay do các yếu tố khách quan mạng lại.
Các yếu tố bên trong nội tại ngân hàng có thể kể đến nhƣ: chất lƣợng tài sản nợ và tài sản có, thu nhập cũng nhƣ khả năng thanh toán của từng ngân hàng. Các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế nói chung nhƣ: tốc độ tăng trƣởng, các yếu tố biến động tỷ giá, vay nợ nƣớc ngoài … A.Burak Guner (2007) đánh giá về cơ hội cho vay và chất lƣợng tín dụng, phân tích danh mục tín dụng. Tác giả chỉ ra rằng các ngân hàng càng đa dạng hóa về danh mục trong sản phẩm tín dụng thì càng phân tán đƣợc rủi ro, nghiên cứu cũng 2 nói đến sự chặt chẽ trong các tiêu chuẩn về tín dụng phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài của các khách hàng đi vay tiềm năng. Đây là nghiên cứu về tiêu chuẩn tín dụng nói chung của các ngân hàng tại các nƣớc phƣơng tây, luận án có thể vận dụng vào tình hình thực tế các NHTM nƣớc ta hiện nay.
GLEN BULLIVANT (2010) đã nêu các vấn đề trong công tác quản lý về tín dụng, theo đó tác giả đƣa ra nội dung về dòng tiền, lợi nhuận đƣợc nâng cao bằng nhiều biện pháp phù hợp, theo đó việc quản lý tín dụng gồm: những hƣớng dẫn nội dung của các chính sách về tín dụng, các biện pháp quản lý rủi ro, thu hồi nợ, việc phải mua bảo hiểm với các khoản vay…Việc quản lý tín dụng bao hàm nhiều nội dung khác nhau từ việc cho vay đến quản lý sau cho vay, các vấn đề liên quan đến quy trình cho vay, xem xét đến việc quản lý các hình thức cho vay cũng nhƣ dịch vụ tín dụng. Cũng liên quan đến vấn đề rủi ro tín dụng và những yếu tố gây ra nợ xấu, tác giả Marrison, C (2002) đã nêu rõ việc quản lý và kiểm soát có hiệu quả về rủi ro tín dụng sẽ làm giảm nguy cơ vỡ nợ từ phía khách hàng, xét về mặt rủi ro và hiệu quả thì các ngân hàng có hoạt động tốt hay không hoặc có lợi thế cạnh tranh hay không là việc các ngân hàng phải có khả năng tạo ra cũng nhƣ phát triển quy mô các khoản tín dụng có lợi nhuận ròng cao nhất cho ngân hàng. Các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao sẽ dễ gây ra tình trạng đổ vỡ đồng thời là do kết quả quản lý yếu kém khi ra quyết định cho vay hay đánh gía không đúng về khả năng trả nợ của khách hàng. Liên quan đến rủi ro tín dụng ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi nhuận từ tín dụng của ngân hàng, tác giả N.Grace (2012) qua quá trình nghiên cứu các ngân hàng tại Kenya giai đoạn 2007-2011 đã chỉ ra rằng hiệu quả của việc quản lý rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng tại Kenya, theo đó đây là một vấn đề đƣợc đƣa ra do mức độ quan trọng của nó cũng nhƣ sự quan trọng không chỉ đối với riêng mỗi ngân hàng mà đối với cả các doanh nghiệp và khách hàng của ngân hàng.
Với nghiên cứu này tác giả đã đƣa ra mô hình nghiên cứu về rủi ro tín dụng qua việc thu thập số liệu từ 26 ngân hàng tại Kenya để phân tích các mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả tài chính của các NHTM. Cũng liên quan đến vấn đề này, Chen và Pan (2012) cũng nghiên cứu về hiệu quả quản lý rủi ro của 34 NHTM tại Đài Loan giai đoạn 2005-2008. Các nghiên cứu trong nƣớc Không chỉ trên thế giới mà hiện tại ở Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu nổi tiếng liên quan đến Chất lƣợng tín dụng, tiêu biểu nhƣ: Trần Thị Hồng Hạnh (1996), tác giả đã làm rõ thêm về tín dụng, chất lƣợng tín dụng, phân tích thực trạng HĐTD, các nhân tố ảnh hƣởng cũng nhƣ các cơ chế quản lý chất lƣợng HĐTD của các NHTM Việt Nam giai đoạn 1990-1996. Việc nghiên cứu chất lƣợng tín dụng đóng vai trò quan trọng đối với các NHTM trong giai đoạn này khi mà nền kinh tế đang trong quá trình phát triển vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc.
Nguyễn văn Hƣng (2003) đã đƣa ra lý luận cơ bản về quy chế đảm bảo tiền vay của NHTM, nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan đến bảo đảm tiền vay tác động đến HĐTD tác giả đã chỉ ra cơ chế đảm bảo tiền vay, tài sản đảm bảo nhằm hạn chế rủi ro đối với ngân hàng góp phần nâng cao chất lƣợng tín dụng của NHTM. Nguyễn Kim Anh (2004) đã đƣa ra những lý luận cơ bản về nghiệp vụ tín dụng từ đó phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của nghiệp vụ tín dụng của các NHTM Việt Nam nhƣ: công tác thẩm định cho vay, đánh giá tài sản đảm bảo, quản trị rủi ro tín dụng…Đây cũng là những yếu tố tác động đến hiệu quả HĐTD. Trần Thị Xuân Hƣơng (2004) đã nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng của NHTM trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế qua việc xây dựng các hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng thông qua thực trạng hoạt động. Phạm Thị Bích Lƣơng (2006) cho rằng mục đích trong hoạt động của NHTM là lợi nhuận, tác giả đã tiếp cận từ các góc độ: ngân hàng, khách hàng, xã hội trong đó hiệu quả xét về phía ngân hàng đƣợc thể hiện qua các chỉ tiêu phân tích nhƣ: ROE, ROA, chênh lệch lãi suất, các chỉ tiêu để đánh giá thu nhập, chi phí, khả năng thanh toán.
Từ việc phân tích chỉ tiêu và nhân tố ảnh hƣởng, tác giả đã đƣa ra những hạn chế nhƣ: các ngân hàng chƣa có mức độ an toàn vốn cao, quản trị rủi ro còn hạn chế, tăng trƣởng tín dụng cao nhƣng tiềm ẩn nhiều rủi ro thể hiện ở tỷ lệ nợ xấu ngày càng tăng, nhiều ngân hàng còn hoạt động thua lỗ, chi phí ngày một tăng.