CHƯƠNG 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NHTM 1. Dự án đầu tư và thẩm định DAĐT tại NHTM 1. Hoạt động đầu tư Nói đến đầu tư, người ta thường nghĩ ngay tới hoạt động bỏ vốn hiện tại để thu được lợi nhuận trong tương lai. Song nếu chỉ dừng lại như vậy thì chưa đủ bởi hoạt động đầu tư luôn gắn với rủi ro.
Rủi ro là một trong các yếu tố có tác động đến quyết định của nhà đầu tư có bỏ vốn hay không và tùy theo từng mức rủi ro mà nhà đầu tư sẽ quyết định bỏ vốn bao nhiêu, khi nào, vào đâu. Do vậy cần hiểu đúng mức và đầy đủ về hoạt động đầu tư theo những nội dung cơ bản sau: - Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ một lượng vốn, nguồn lực ban đầu trong một thời gian dài. - Đầu tư luôn gắn với rủi ro, mạo hiểm, cho nên nhà đầu tư luôn phải dự tính trước điều này để có biện pháp phòng ngừa, hạn chế. - Nhà đầu tư luôn phải cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích thu được trong tương lai.
- Đầu tư gắn với mục tiêu hiệu quả. Song với mỗi nhà đầu tư khác nhau lại theo đuổi những mục tiêu khác nhau. Đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp thì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. NHTM hướng tới mục tiêu an toàn và hiệu quả của đồng vốn vay, còn đối với một quốc gia thì đó là hiệu quả kinh tế xã hội.
Mục tiêu đầu tư được thể hiện dưới các kết quả tài chính, kinh tế và xã hội. Mỗi nhà đầu tư khi theo đuổi mục tiêu nào đó sẽ cố gắng đạt được tối đa kết quả. Muốn tối đa hóa hiệu quả đầu tư thì trước khi quyết định đầu tư nhất thiết phải có DAĐT. Trên thực tế, hoạt động đầu tư được thể hiện tập trung qua việc thực hiện các dự án đầu tư.
Khái niệm Đứng trên những phương diện nhìn nhận khác nhau thì những quan niệm về DAĐT cũng khác nhau: Xét về bản chất, DAĐT là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian xác định. Xét về mặt hình thức, DAĐT là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, đầy đủ, khoa học và toàn diện một dự kiến đầu tư trong tương lai. Xét trên góc độ quản lý, DAĐT là cơ sở để các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét, phê duyệt cấp phép đầu tư, là căn cứ quan trọng để đánh giá và đưa ra những điều chỉnh kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác dự án và là cơ sở pháp lý để xem xét, xử lý khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh đầu tư. Còn đứng trên phương diện kế hoạch hóa, DAĐT là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ.
Chu trình của dự án Hoạt động đầu tư bắt đầu từ khi có ý định về DAĐT đến việc xây dựng, thực hiện và kết thúc dự án. Quá trình này chia làm 3 giai đoạn: - Giai đoạn chuẩn bị đầu tư gồm các bước chính sau: Nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi; Nghiên cứu khả thi; Thẩm định và ra quyết định đầu tư. - Giai đoạn thực hiện đầu tư gồm các bước chính sau: khảo sát thiết kế lập dự toán; dự kiến mua thiết bị, công nghệ, vật tư ký thuật, tổ chức đấu thầu, chọn thầu, giao nhận thầu; thi công theo đúng thiết kế, tiến độ đã đề ra, tiến hành chạy thử; bàn giao đưa công trình vào khai thác. - Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư gồm các bước chính: tổ chức sản xuất kinh doanh; kết thúc dự án; đánh giá sau dự án.
Như vậy, thẩm định DAĐT là một khâu trong cả chu trình, nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng và được xem là tính quyết định đối với sự thành bại của một DAĐT. Thẩm định dự án đầu tư 1. Khái niệm Các DAĐT khi được soạn thảo xong mặc dù được nghiên cứu tính toán rất kỹ thì cũng chỉ mới qua bước khởi đầu. Để đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và quyết định dự án có được thực thi hay không cần có một quá trình xem xét, kiểm tra đánh giá một cách độc lập, tách biệt với quá trình soạn thảo dự án.
Quá trình đó gọi là thẩm định dự án. Vậy, thẩm định DAĐT là việc thẩm tra, so sánh, đánh giá một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung của dự án, hoặc so sánh đánh giá các phương án của một hay nhiều dự án để đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả và tính khả thi của dự án. Từ đó ra những quyết định đầu tư và cho phép đầu tư. Dưới góc độ của ngân hàng (nhà tài trợ vốn), thẩm định dự án là việc kiểm tra, phân tích đánh giá về hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ vốn vay với những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án, nhằm đưa ra kết luận về việc cho vay hay không cho vay.
Một DAĐT cho dù có được soạn thảo kỹ lưỡng tới đâu cũng không thể lường hết được sự biến động và các rủi ro phát sinh trong quá trình tiến hành thực hiện dự án. Do vậy, việc thẩm định DAĐT được coi là việc phản biện của việc thiết lập dự án, là một bước quan trong trong giai đoạn chuẩn bị dự án. Vai trò thẩm định dự án trong hoạt động cho vay của NHTM Thẩm định dự án có vai trò rất quan trọng không những đối với hoạt động tín dụng của NHTM, mà nó còn có tác dụng thiết thực đối với chủ đầu tư và các cơ quan quản lý Nhà nước. Đó là quá trình kiểm tra, đánh giá, rà soát lại toàn bộ những vấn đề có liên quan đến dự án, làm rõ những thuận lợi, khó khăn đối với dự án, tính hợp lệ, hợp pháp, minh bạch đối với dự án, hiệu quả tài chính của dự án, năng lực tài chính của chủ đầu tư và khả năng nguồn vốn đáp ứng cho việc thực hiện dự án… * Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Thẩm định DAĐT đứng trên góc độ quản lý của Nhà nước chính là xem xét các lợi ích kinh tế xã hội với các tiêu chuẩn của nó mà dự án mang lại có phù hợp với các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hay không.
5 * Đối với các chủ đầu tư dự án: Ngoài hiệu quả của dự án mục đích thẩm định còn là xem xét đến những rủi ro, những trở ngại có thể gặp phải khi đi vào thực hiện dự án nhằm có các đối sách thích hợp. * Đối với các nhà tài trợ dự án: Ngoài những vấn đề nêu trên, họ còn quan tâm chủ yếu phương án tài chính và khả năng hoàn vốn vay cụ thể của dự án. Một trong những nhà tài trợ chủ yếu của dự án là các NHTM và cho dù tài trợ cho dự án dưới bất kỳ hình thức nào thì nghiệp vụ thẩm định dự án đầu tư có ý nghĩa hết sức quan trọng trong ra quyết định của ngân hàng đối với các dự án. Việc thẩm định dự án sẽ giúp đánh giá chính xác hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội của việc đầu tư, ngăn ngừa, hạn chế bớt các rủi ro, tránh gây thất thoát không thu hồi được vốn của chủ đầu tư, nhà tài trợ cũng như của xã hội.
Những dự án không được thẩm định kỹ thường đưa đến những hậu quả như: rủi ro về mặt pháp lý, kỹ thuật lạc hậu, công nghệ lỗi thời, không đồng bộ, thời gian xây dựng kéo dài, thiếu vốn xây dựng cơ bản, nguồn nguyên liệu thiếu đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng, không có thị truờng tiêu thụ, gây ô nhiễm môi trường… Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, đặc biệt là trong việc cho vay, bảo lãnh đối với các DAĐT thì việc thẩm định để đưa ra quyết định cấp tín dụng, bảo lãnh lại càng quan trọng. Đặc trưng của việc cấp tín dụng và bảo lãnh đối với các DAĐT là mức vốn cho vay, bảo lãnh khá lớn, thời hạn cho vay dài (thời hạn càng dài thì rủi ro càng lớn vì không thể lường hết được những biến động trong tương lai như: cơ chế chính sách, biến động thị trường, chênh lệch tỷ giá, sự cạnh tranh, đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp, khả năng quản lý…) Ngoài ra, việc thẩm định của ngân hàng còn giúp khách hàng, chủ đầu tư bổ sung hoàn thiện hồ sơ đối với dự án, điều chỉnh các nội dung liên quan đến dự án một cách hợp lý, giúp cho việc triển khai thực hiện dự án được tốt hơn và hiệu quả hơn. Qua thực tế cho thấy, những ngân hàng nào làm tốt công tác thẩm định và nâng cao chất lượng thẩm định thì chất lượng tín dụng tại ngân hàng đó được nâng cao rõ rệt, hạn chế mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra, góp phần đưa hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả hơn, vị thế của ngân hàng được nâng cao. Cơ sở thẩm định DAĐT của ngân hàng Để có căn cứ thẩm định DAĐT, các CBTD kiểm tra, thu thập tổng hợp và phân tích các nguồn thông tin về khách hàng từ các nguồn sau: - Phỏng vấn trực tiếp người vay: Những thông tin do khách hàng cung cấp chính là bộ hồ sơ vay vốn theo yêu cầu của ngân hàng, bao gồm: Hồ sơ pháp lý khách hàng; hồ sơ tài chính của khách hàng; hồ sơ dự án; hồ sơ đảm bảo tiền vay, các văn bản giấy tờ khác có liên quan.
- Những thông tin từ ngân hàng có quan hệ thanh toán, tiền gửi, tín dụng với khách hàng. - Các nguồn thông tin của các tổ chức có liên quan và thông tin từ thị trường. - Điều tra thực tế tại nơi hoạt động kinh doanh của khách hàng. Quy trình của việc thẩm định dự án Mỗi ngân hàng tự xây dựng và áp dụng cho nội bộ đơn vị mình một quy trình thẩm định riêng sao cho phù hợp của ngành, của ngân hàng mình và tuân thủ theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Tuy nhiên về cơ bản, một quy trình thẩm định gồm 7 bước sau: (xem sơ đồ 1.