CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỄN THÔNG VÀ CƯỚC THUÊ BAO VIỄN THÔNG 1. TỔNG QUAN VỀ VIỄN THÔNG 1. Khái niệm viễn thông Viễn thông là việc truyền dẫn thông tin giao tiếp qua một khoảng cách đáng kể về địa lý. Viễn thông bao gồm những vấn đề liên quan đến việc truyền thông tin (trao đổi hay quảng bá thông tin) giữa các đối tượng qua một khoảng cách, nghĩa là bao gồm bất kỳ hoạt động liên quan tới việc phát/nhận tin tức (âm thanh, hình ảnh, chữ viết, dữ liệu,…) qua các phương tiện truyền thông (hữu tuyến như đường dây kim loại, cáp quang hoặc vô tuyến hoặc các hệ thống điện tử khác).
Vào thời xưa, viễn thông gồm việc dùng các tín hiệu hình ảnh, chẳng hạn như đèn hiệu, tín hiệu khói, tín hiệu cờ, quang báo, hoặc tin nhắn âm thanh như tiếng trống, tiếng tù và, tiếng còi. Thời hiện đại, viễn thông là việc dùng các thiết bị như máy điện báo, điện thoại, máy telex, cũng như việc dùng thông tin liên lạc viba, vô tuyến, sợi quang, và kết hợp với vệ tinh thông tin và Internet. Trong những năm qua, hạ tầng viễn thông phát triển nhanh về cả công nghệ và chất lượng cung cấp dịch vụ. Viễn thông đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài với nhiều bước ngoặt trong phát triển công nghệ và phát triển mạng lưới.
Việt Nam cũng như các nước trên thế giới hiện nay có rất nhiều nhà khai thác viễn thông khác nhau với sự đa dạng của công nghệ và cấu hình mạng cũng như các dịch vụ cung cấp. Dịch vụ viễn thông 1. Khái niệm dịch vụ viễn thông Sản phẩm dịch vụ viễn thông rất đa dạng và phong phú, nó bao gồm cả sản phẩm hữu hình là các thiết bị viễn thông và sản phẩm vô hình là các dịch vụ viễn thông. Trong đó dịch vụ viễn thông là kết quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức.
Nói một các khác, dịch vụ viễn thông là dịch vụ cung cấp cho khách hàng khả năng trao đổi thông tin với nhau hoặc thu nhận thông tin thông qua mạng viễn thông (thường là mạng công cộng như mạng điện thoại chuyển mạch công cộng, mạng điện thoại di động, GVHD: Đỗ Thị Hải Yến ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 4 mạng Internet, mạng truyền hình cáp,…) của các nhà cung cấp dịch vụ và nhà cung cấp hạ tầng mạng 1. Phân loại dịch vụ viễn thông : Dịch vụ viễn thông rất đa dạng, vì vậy có nhiều phương pháp để phân loại dịch vụ viễn thông theo những quan điểm khác nhau: - Phân loại dịch vụ viễn thông theo quan điểm người sử dụng: + Dịch vụ cơ bản: truyền đưa thông tin qua mạng viễn thông mà không làm thay đổi loại hình hay nội dung thông tin. Đây là loại hình dịch vụ tối thiểu mà nhà cung cấp dịch vụ cung cấp cho khách hàng dựa trên năng lực cơ bản của mạng viễn thông của nhà cung cấp. + Dịch vụ internet, bao gồm: • Dịch vụ truy nhập internet: là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập internet.
• Dịch vụ kết nối internet: cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet khả năng kết nối với nhau và với internet quốc tế. • Dịch vụ ứng dụng internet trong bưu chính viễn thông: sử dụng internet để cung cấp dịch vụ bưu chính viễn thông cho người sử dụng. + Dịch vụ giá trị gia tăng: là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hay cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin trên cơ sở ứng dụng mạng viễn thông, thuận tiện hơn cho người dùng. + Dịch vụ trên nền mạng thế hệ sau: mạng có hạ tầng thông tin dựa trên công nghệ gói để có thể triển khai nhanh chóng các loại hình dịch vụ khác nhau dựa trên sự hội tụ giữa thoại và số liệu, giữa cố định và di động.
- Phân loại dịch vụ viễn thông theo địa điểm cung cấp dịch vụ: + Dịch vụ tại nhà thuê bao: cung cấp đến địa chỉ đăng ký của từng chủ thuê bao và được đấu nối đến mạng theo hợp đồng. + Dịch vụ tại điểm công cộng: cung cấp cho người sử dụng dịch vụ trên cơ sở các thiết bị đầu cuối của đơn vị cung cấp dịch vụ đặt tại các điểm công cộng, bao gồm dịch vụ có người phục vụ và dịch vụ không có người phục vụ. GVHD: Đỗ Thị Hải Yến ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 5 - Phân loại dịch vụ viễn thông theo phương thức khai thác dịch vụ: + Dịch vụ quay số trực tiếp: việc liên quan giữa các thiết bị được người sử dụng thực hiện bằng phương thức tự động bấm số trực tiếp. + Dịch vụ qua điện thoại viên: việc liên quan giữa các thiết bị được thực hiện bằng phương thức bán tự động qua sự trợ giúp của điện thoại viên hay thiết bị hướng dẫn kết nối cuộc gọi.
- Phân loại dịch vụ viễn thông theo phạm vi cung cấp dịch vụ: + Dịch vụ nội hạt: liên lạc được tập hợp thông qua mạng điện thoại công cộng giữa các thiết bị đầu cuối hay giữa thiết bị đầu cuối với thiết bị truy nhập mạng dịch vụ trong cùng một phạm vi nội hạt. + Dịch vụ đường dài trong nước: liên lạc giữa các thiết bị nằm ở các phạm vi nội hạt khác nhau. + Dịch vụ quốc tế: liên lạc giữa các thiết bị trong đó có ít nhất một thiết bị được lắp đặt hay đăng ký sử dụng ở nước ngoài. - Phân loại dịch vụ viễn thông theo phương thức thanh toán: + Dịch vụ trả tiền trước: người sử dụng thanh toán cước cho đơn vị cung cấp dịch vụ trước khi sử dụng.
Mua thẻ và cước sử dụng được trữ dần trên thẻ hay trữ vào tài khoản cho đến hết thuộc phạm vi hay thời gian liên lạc. + Dịch vụ trả tiền sau: người sử dụng thanh toán cước cho đơn vị cung cấp dịch vụ sau khi sử dụng dịch vụ trên cơ sở thông báo hay hóa đơn 1. Đặc điểm dịch vụ viễn thông Dịch vụ viễn thông là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người sử dụng và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện tạo ra các sản phẩm dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản xuất vật chất.
Do đó dịch vụ viễn thông vừa mang đầy đủ tính chất của một loại hình dịch vụ lại vừa có đặc điểm riêng của ngành viễn thông: - Thứ nhất, tin tức truyền đưa nguyên kiện trong quá trình sản xuất. Với các sản phẩm dịch vụ viễn thông, khi nhận được yêu cầu sử dụng dịch vụ từ phía khách hàng, các thông tin thoại hoặc phi thoại được mã hóa sau đó được truyền đưa qua mạng viễn thông công cộng rồi được giải mã, sao đó chuyển đến cho người nhận. Nội GVHD: Đỗ Thị Hải Yến ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 6 dung và hình thức của thông tin được gửi đi ra sao thì người nhận được nhận như vậy, không hề có sự thay đổi. Trong quá trình này có tồn tại sự thay đổi chỉ là về vị trí không gian.
Hơn nữa trong quá trình này, nội dung thông tin phải được bảo đảm an toàn tuyệt đối, không để mất mát, sai lệch hay tiết lộ thông tin. - Thứ hai, dịch vụ viễn thông có tính vô hình. Sản phẩm viễn thông không phải là vật phẩm được chế tạo mới, không phải là vật thể cụ thể mà nó là kết quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận và được thể hiện dưới dạng dịch vụ. Đặc điểm này làm cho chất lượng của dịch vụ viễn thông phụ thuộc vào sự cảm nhận của khách hàng, do đó nó không đồng nhất vì các khách hàng luôn có nhu cầu, sở thích khác nhau hoặc có sự thỏa mãn về dịch vụ khác nhau.
Cũng do dịch vụ viễn thông không phải là vật chất cụ thể tồn tại trong quá trình sản xuất nên không thể đưa vào cất giữ được trong kho, không thể thay thế được. Chính vì vậy phải có những yêu cầu cao đối với chất lượng dịch vụ viễn thông. - Thứ ba, quá trình sản xuất dịch vụ viễn thông mang tính dây chuyền. Quá trình truyền đưa tin tức là quá trình diễn ra từ hai phía.
Điểm đầu và điểm cuối của một quá trình truyền đưa tin tức có thể ở các huyện, xã, tỉnh, hay các quốc gia khác nhau. Thông thường để thực hiện một đơn vị sản phẩm viễn thông cẩn có nhiều đơn vị sản xuất trong nước và có khi có nhiều đơn vị sản xuất ở các nước khác nhau cùng tham gia và trong quá trình đó người ta sử dụng nhiều loại thiết bị truyền thông khác nhau. - Thứ tư, quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ. Do quá trình sản xuất trùng với quá trình tiêu thụ cho nên yêu cầu đối với chất lượng dịch vụ thông tin viễn thông phải luôn được đặt ở vị trí quan tâm hàng đầu, là yếu tố quyết định nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng và chất lượng sản phẩm.
Đối với các ngành sản xuất khác thì sản phẩm sản xuất ra phải qua khâu kiểm tra chất lượng rồi mới đưa ra thị trường và người tiêu dùng có thể từ chối không mua sản phẩm kém chất lượng. Nhưng việc không đảm bảo được chất lượng dịch vụ viễn thông có thể gây ra những thiệt hại không thể bù đắp về cả vật chất lẫn tinh thần. - Thứ năm, tải trọng không đồng đều theo thời gian và không gian. Tải trọng là lượng tin tức đến yêu cầu chuyển đi trong một thời gian nhất định.
Như vậy, nhu cầu truyền đưa tin tức của khách hàng quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông mà nhu cầu truyền đưa tin tức rất đa dạng, không GVHD: Đỗ Thị Hải Yến ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 7 đồng đều cả về không gian lẫn thời gian, nó có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, ở đâu có con người là ở đó có nhu cầu thông tin. Thông thường nhu cầu truyền đưa tin tức phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội (ví dụ: vào dịp lễ tết hay thời gian làm việc của các công ty, tập đoàn ở các thành phố lớn,. Để đảm bảo quá trình truyền đưa tin tức được lưu loát thì doanh nghiệp cần phải có một lượng dự trữ đáng kể về trang thiết bị cũng như lao động vì đặc điểm không dự trữ được của sản phẩm. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH DOANH VIỄN THÔNG 1.