CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TIỀN GỞI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ TIỀN GỞI NGÂN HÀNG 1. Lý thuyết dịch vụ 1. Khái niệm Dịch vụ Theo lý thuyết marketing: Dịch vụ là một dạng sản phẩm vô hình mà ta không thể cảm nhận được bằng những hành vi như sờ mó, nhìn, ngửi,.Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động kinh tế mà kết quả của nó không hữu hình.
Nhìn chung sản phẩm dịch vụ được tiêu dùng ngay tại thời điểm nó được tạo ra và nó cung cấp một giá trị tăng thêm bằng những hình thức khác biệt như sự tiện lợi, sự thích thú, sự tiện nghi…(Đinh Thiên Minh, 2014) Thomsson và Ovretveit (1994) cho rằng, chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và làm thỏa mãn nhu cầu của họ Theo từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” (Hoàng phê và nhiều tác giả, 2003, trang 256). Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng phi vật chất. Theo Bùi Nguyên Hùng và Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2004): “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục đích của việc tương tác này là nhằm hài lòng nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng” Tóm lại, Dịch vụ là một hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.
Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có 5 đặc điểm cơ bản như sau: 9 Thứ nhất, tính vô hình: Chúng ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ. Thứ hai, tính không thể tách rời: Hàng hoá vật chất thường phải sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều nấc trung gian, sau đó mới dến tay người tiêu dùng cuối cùng nhưng dịch vụ thường được cung ứng và tiêu dùng một cách đồng thời. Thứ ba, tính không đồng nhất: Dịch vụ mang tính chất vô hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và chưa có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng.
CLDV được thể hiện ở sự hài lòng và mong đợi của khách hàng, tuy nhiên sự hài lòng và mong đợi của khách hàng luôn thay đổi theo thời gian và không gian. Thứ tư, tính không thể cất trữ: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi thị trường có nhu cầu thì đem ra bán. Thứ năm, tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng và được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định bởi bản chất của dịch vụ là vô hình và được khách hàng cảm nhận ngay tại thời điểm nhà cung cấp cung ứng dịch vụ.
Lý thuyết chung về chất lượng dịch vụ Chất lượng hàng hóa là hữu hình và có thể đo lường bởi các tiêu chí khách quan như: tính năng, đặc tính và độ bền. Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ là vô hình. Khách hàng nhận được dịch vụ thông qua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và cảm nhận. Đặc điểm nổi bật của khách hàng chỉ có thể đánh giá được toàn bộ chất lượng dịch vụ khi đã “mua” và “sử dụng” chúng.
Theo Zeithaml (1987): “Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Nó là một dạng của thái độ 10 và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được”. Theo Peter Senge et al.: Chất lượng là một quá trình chuyển đổi theo phương thức chúng ta suy nghĩ và làm việc cùng nhau, theo phương thức mà chúng ta đánh giá và ban tặng, và theo phương thức mà chúng ta đo lường sự thành công. Tất cả, chúng ta phối hợp với nhau thiết kế, và vận hành hệ thống giá trị gia tăng đi kèm với kiểm định chất lượng, dịch vụ khách hàng, cải thiện quy trình, mối quan hệ với nhà cung ứng và mối quan hệ tốt với cộng đồng, chúng ta đang phục vụ, và trong cộng đồng mà ta vận hành với mức tối ưu vì một mục đích chung.
Theo Parasuraman và cộng sự : “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ” Theo quan điểm của Philip Kotler và cộng sự (2005): chất lượng dịch vụ được định nghĩa là khả năng của một dịch vụ bao gồm độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa và các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng của nó. Parasuraman và cộng sự (1985) được xem là một những người đầu tiên nghiên cứu chất lượng dịch vụ một cách cụ thể với việc đưa ra mô hình 5 khoảng cách trong chất lượng dịch vụ. Đến năm 1988, mô hình này được đặt tên là mô hình SERVQUAL. Một số điểm chung về chất lượng dịch vụ là : ▪ Chất lượng dịch vụ là kết quả của một quá trình đánh giá.
▪ Chất lượng dịch vụ được đánh giá dựa trên sự so sánh giữa chất lượng mong đợi của khách hàng và việc cung ứng dịch vụ của nhà cung cấp. Tóm lại, Chất lượng dịch vụ có thể được hiểu là sự so sánh giữa sự mong đợi về chất lượng dịch vụ của khách hàng, và việc thực hiện dịch vụ của nhà cung cấp. Để đánh giá chất lượng dịch vụ không thể chỉ dựa vào kết quả thực hiện dịch vụ mà phải dựa vào cả quá trình cung ứng dịch vụ 11 1. Mô hình chất lượng dịch vụ Mô hình chất lượng của Parasuraman và cộng sự (1985) Đây là một bức tranh tổng thể về chất lượng dịch vụ, là một trong những mô hình đã góp phần tạo tiền đề cho nhiều công trình nghiên cứu khác liên quan đến CLDV.
Tuy nhiên, mô hình này mang tính khái niệm nhiều hơn. Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng, bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng của dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng có thể mô hình thành mười thành phần, đó là: 1. Sự tin cậy: nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu. Khả năng đáp ứng: nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Năng lực phục vụ: nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ. Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, khả năng nghiên cứu về nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng. Tiếp cận: tạo ra mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận với dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng. Lịch sự: nói lên tính cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và thân thiện với khách hàng.
Thông tin: liên quan đến việc giao tiếp, truyền đạt cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ dễ hiểu về những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc mắc. Sự tín nhiệm: nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách hàng, làm cho khách hàng tin cậy vào công ty. Khả năng này thể hiện qua hình ảnh, thương hiệu của công ty cũng như nhân cách của nhân viên giao tiếp trực tiếp với khách hàng. An toàn: liên quan đến khả năng đảm bảo sự an toàn cho khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính, cũng như bảo mật thông tin.
Hiểu biết khách hàng: thể hiện qua khả năng nắm bắt nhu cầu của khách hàng, quan tâm đến cá nhân khách hàng và nhận dạng được khách hàng thường xuyên. Phương tiện hữu hình: thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ và các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. Ưu điểm của mô hình mười thành phần của CLDV nêu trên là bao quát hết mọi khía cạnh của một dịch vụ. Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là phức tạp trong việc đo lường và mang tính lý thuyết, có thể sẽ có nhiều thành phần của mô hình chất lượng dịch vụ này không đạt giá trị phân biệt.
Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu đã nhiều lần kiểm định mô hình trên và kết luận là CLDV bao gồm năm thành phần cơ bản, đó là: 1. Sự tin cậy: Thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên. Khả năng đáp ứng: Thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. Năng lực phục vụ: Thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng.
Đồng cảm: Thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng. Phương tiện hữu hình: Thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các thiết bị phục vụ cho dịch vụ. Parasuraman và cộng sự (1985) đã xây dựng và kiểm định thang đo năm thành phần của CLDV (SERVQUAL), bao gồm 22 biến. Thang đo này đã được các tác giả kiểm nghiệm và điều chỉnh nhiều lần và kết luận rằng nó là thang đo phù hợp cho mọi loại hình dịch vụ.
13 Tóm tắt một số mô hình chất lượng dịch vụ liên quan đến ngân hàng.1: Tổng hợp các bài nghiên cứu liên quan đến ngân hàng STT Tác giả (năm) Mô hình Thành phần CLDV 1 Parasuraman & SERVQUAL (1) Phương tiện hữu hình; ctg (1988, 1991) (2) Tin cậy; (3) Đáp ứng; (4) Năng lực phục vụ; (5) Sự đồng cảm. 2 Avkiran (1994) BANKSERV (1) Nhân viên phục vụ; (2) Tín nhiệm; (3) Thông tin; (4) Khả năng tiếp cận dịch vụ rút tiền. 3 Aldlaigan & SYSTRA-SQ (1) Chất lượng hệ thống dịch vụ; Buttle (2002) (2) Chất lượng hành vi ứng xử; (3) Giao dịch chính xác; (4) Chất lượng trang thiết bị. 4 Bahia & Nantel Mô hình BSQ (1) Năng lực phục vụ hiệu quả; (2000) (Banking (2) Tiếp cận; Service (3) Giá cả; Quality) (4) Phương tiện hữu hình; (5) Danh mục dịch vụ; (6) Tin cậy.