Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT VÀ CÁ NHÂN 1. Cơ sở lý luận về chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng đối với hộ sản xuất và cá nhân 1. Khái niệm về hộ sản xuất, cá nhân và tín dụng đối với hộ sản xuất, cá nhân 1. Hộ sản xuất, cá nhân Hộ sản xuất được xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ, được Nhà nước giao đất quản lý và sử dụng vào sản xuất kinh doanh và được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định do Nhà nước quy định.
Trong quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự: những hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó. Những hộ gia đình mà đất ở được giao cho hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan đến đất ở đó. Trên góc độ ngân hàng, hộ sản xuất là một thuật ngữ được dùng trong hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ. Thành phần chủ yếu của hộ sản xuất bao gồm: Hộ nông dân, hộ tư nhân, hộ kinh doanh cá thể, hộ gia đình xã viên, hộ nông-lâm trường viên.
Hộ sản xuất phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh hộ sản xuất. Hộ chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ. Nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ, thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình. Như vậy, hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn.
Hộ sản xuất trong nhiều ngành nghề hiện nay phần lớn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các hộ này tiến hành sản xuất kinh 6 doanh ngành nghề phụ. Đặc điểm sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề mới trên đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hộ sản xuất của nước ta trong thời gian qua. Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất, cá nhân a.
Khái niệm tín dụng Ngân hàng thương mại Theo Phan Thị Cúc: “Tín dụng của Ngân hàng nói chung được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay là Ngân hàng và bên đi vay, trong đó Ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay trong một thời gian, trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn”. Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại. Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản của Ngân hàng thương mại và thu nhập từ tín dụng thường chiếm 70%-90% tổng thu nhập của Ngân hàng thương mại. Bên cạnh việc đem lại thu nhập chính cho Ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh cũng có xu hướng tập trung vào danh mục tín dụng.
Chính vì vậy mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các Ngân hàng thương mại cũng như thanh tra Ngân hàng. Phân loại tín dụng Ngân hàng thương mại + Căn cứ theo hình thức - Chiết khấu thương phiếu: là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn. - Cho vay: là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong một khoảng thời gian xác định. - Bảo lãnh: là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết của mình.
- Cho thuê tài chính: là việc Ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho 7 khách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định. Sau một thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc và lãi cho Ngân hàng. + Căn cứ theo thời hạn cho vay - Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn đến 12 tháng. - Tín dụng trung hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng (có thể khác nhau ở mỗi nước).
- Tín dụng dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 60 tháng, có thể kéo dài đến 20 -30 năm hoặc thậm chí lâu hơn. + Căn cứ theo khách hàng vay vốn - Tín dụng đối với hộ gia đình, cá nhân: là loại hình cho vay nhu cầu sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của hộ gia đình, cá nhân. Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy theo mục đích sử dụng vốn vay và nguồn trả nợ của hộ gia đình, cá nhân. - Tín dụng đối với tổ chức/ doanh nghiệp: là loại hình cho vay để phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy vào nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra, còn có thể phân chia loại hình tín dụng theo phương pháp hoàn trả, mức độ tín nhiệm với khách hàng. Tín dụng đối với hộ sản xuất, cá nhân Tín dụng hộ sản xuất cũng là một loại hình tín dụng của các ngân hàng thương mại. Tín dụng hộ sản xuất có thể hiểu là quan hệ tín dụng ngân hàng giữa một bên là ngân hàng với một bên là hộ sản xuất, kinh doanh hàng hóa.
Từ khi được thừa nhận là chủ thể trong mọi quan hệ xã hội, có thừa kế, có quyền sở hữu tài sản, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, có tài sản thế chấp thì hộ sản xuất mới có đủ khả năng và đủ tư cách để tham gia quan hệ tín dụng với ngân hàng, đây cũng chính là điều kiện cần để đáp ứng điều kiện vay vốn ngân hàng. Tín dụng cá nhân là nhu cầu cho vay cá nhân tùy thuộc vào tình hình 8 tài chính của họ ở những mức độ khác nhau. Những cá nhân trên là những cá nhân có đủ năng lực pháp lý thuộc nhiều thành phần khác nhau: các công chức nhà nước, viên chức các đơn vị không phải nhà nước, những người lao động tự do… Mục đích cho vay thường chủ yếu để mua, sửa chữa cải tạo, nâng cấp nhà ở, các đồ dùng sinh hoạt, phương tiện… Đặc điểm tín dụng hộ sản xuất và cá nhân: - Tính chất thời vụ trong cho vay nông nghiệp có liên quan đến chu kỳ sinh trưởng của động, thực vật trong ngành nông nghiệp nói chung và các ngành nghề cụ thể mà ngân hàng tham gia cho vay. - Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng.
- Chi phí tổ chức cho vay cao vì có liên quan đến nhiều yếu tố như chi phí tổ chức mạng lưới, chi phí thẩm định, theo dõi khách hàng, món vay và chi phí phòng ngừa rủi ro. - Chi phí dự phòng rủi ro lớn. Do ngành nông nghiệp có độ rủi ro tương đối cao nên chi phí cho dự phòng rủi ro là rất lớn so với các ngành khác. Rủi ro tín dụng hộ sản xuất, cá nhân 1.
Khái niệm về rủi ro tín dụng hộ sản xuất, cá nhân - Rủi ro: Có thể được hiểu khái quát đó là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước được, khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác kết quả kỳ vọng theo kế hoạch. - Rủi ro Ngân hàng: Ngân hàng không chỉ hoạt động trong lĩnh vực huy động vốn mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như cho vay, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán, phát hành thẻ. Do đó, hoạt động của các Ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Rủi ro chung đối với một Ngân hàng có nghĩa là mức độ không chắc chắn liên quan đến những sự kiện, những tình huống gây nên tổn thất kinh tế, làm chi phí tăng lên, thu nhập và lợi nhuận Ngân hàng giảm đi so với dự kiến ban đầu.
Rủi ro có thể được đo lường cho các sản phẩm, dịch vụ khác nhau của Ngân hàng. 9 Các Ngân hàng được coi là kinh doanh thành công khi mức độ rủi ro của họ được giữ ở mức hợp lý, được kiểm soát trong phạm vi và năng lực hoạt động tài chính của Ngân hàng. - Rủi ro tín dụng Ngân hàng: Rủi ro tín dụng Ngân hàng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đối với Ngân hàng. Đây là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề nhất cho Ngân hàng.
Theo Phan Thị Thu Hà: “Rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.” Nguyễn Văn Nam và Vương Trọng Nghĩa định nghĩa “Rủi ro tín dụng là các tổn thất phát sinh từ việc khách hàng không trả được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn sau khi được cấp các khoản tín dụng. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như: bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, những chứng khoán có giá (trái phiếu, cổ phiếu.), tín dụng thuê mua, đồng tài trợ.