CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ KHÁCH HÀNG TRONG NGÀNH VIỄN THÔNG 1. Khách hàng và kỳ vọng của khách hàng 1. Khái niệm về khách hàng Nền kinh tế thị trường tôn vinh KH lên một vị trí rất quan trọng, đó là Thượng đế. KH là người cho ta tất cả.
Vì vậy các công ty phải xem KH như là nguồn vốn cần được quản lý và phát huy như bất kỳ nguồn vốn nào khác. Tom Peters xem KH là “tài sản làm tăng thêm giá trị”. Đó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không có ghi trong sổ sách công ty. Peters Drucker [11, tr 21], cha đẻ của ngành quản trị cho rằng mục tiêu của công ty là “tạo ra KH”.
KH là người quan trọng nhất đối với chúng ta. Họ không phụ thuộc vào chúng ta mà chúng ta phụ thuộc vào họ. Họ không phải là kẻ ngoài cuộc mà chính là một phần trong việc kinh doanh của chúng ta. Khi phục vụ KH, không phải chúng ta giúp đỡ họ mà họ đang giúp đỡ chúng ta bằng cách cho chúng ta cơ hội để phục vụ.
Để nắm bắt được nhu cầu của KH, DN phải biết được KH của mình là ai. Thông thường, DN chỉ giới hạn khái niệm KH là những người làm ăn bên ngoài với DN. Họ là những người mua và tiêu thụ sản phẩm của DN. Họ là tài sản làm tăng thêm giá trị của DN.
Tuy nhiên chúng ta cần hiểu khái niệm KH một cách rộng hơn. Trên thực tế, mỗi một nhân viên làm việc trong một DN đều có KH riêng, không phân biệt đó là người tiêu dùng sản phẩm và đem lại lợi nhuận cho DN, hay chỉ đơn giản là một đồng nghiệp của nhân viên đó tại nơi làm việc. Như vậy, KH là những người chúng ta phục vụ cho dù họ có trả tiền cho sản phẩm - dịch vụ của chúng ta hay không. KH gồm KH bên ngoài và KH nội bộ.
KH bên ngoài: Đây là những người thực hiện các giao dịch với DN, bằng nhiều hình thức: gặp gỡ trực tiếp, giao dịch qua điện thoại hay giao dịch trực tuyến. Đây chính là cách hiểu truyền thống về KH, không có những Kh như thế 4 này, DN cũng không thể tồn tại. Những KH được thỏa mãn là những người mua và nhận sản phẩm, dịch vụ của chúng ta cung cấp. KH có quyền lựa chọn, nếu sản phẩm và dịch vụ của chúng ta không làm hài lòng KH thì họ sẽ lựa chọn một nhà cung cấp khác.
Khi đó DN sẽ chịu thiệt hại. Những KH được thỏa mãn là nguồn tạo ra lợi nhuận cho DN và họ chính là người tạo nên sự thành công cho DN. KH chính là ông chủ của DN, họ là người trả lương cho chúng ta bằng cách tiêu tiền của họ khi dùng sản phẩm, dịch vụ của DN. KH nội bộ: nhân viên chính là KH của DN và các nhân viên cũng chính là KH của nhau.
Về phía DN, họ phải đáp ứng được nhu cầu của nhân viên, có những chính sách nhằm phát huy lòng trung thành của nhân viên. Bên cạnh đó, giữa các nhân viên cũng cần có sự quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc. Với khái niệm về KH được hiểu theo một nghĩa rộng, DN sẽ có thể tạo ra một dịch vụ hoàn hảo hơn bởi chỉ khi nào DN có sự quan tâm tới nhân viên, xây dựng được lòng trung thành của nhân viên, đồng thời, các nhân viên trong DN có khả năng làm việc với nhau, quan tâm đáp ứng nhu cầu và làm hài lòng đồng nghiệp thì họ mới có được tinh thần làm việc tốt, mới có thể phục vụ các KH bên ngoài của DN một cách hiệu quả, thống nhất. Kỳ vọng của khách hàng Peter Drucker [11, tr 76] cho rằng "chỉ có một định nghĩa đúng về mục đích kinh doanh: tạo ra KH.
Thị trường không phải do Thượng đế, thiên nhiên, hay các động lực kinh tế tạo ra, mà do chính các DN hình thành. DN giúp KH thoả mãn sự ham muốn của mình ”. Nhưng KH ngày nay đang đứng trước rất nhiều chủng loại sản phẩm và nhãn hiệu, giá cả và người cung ứng và tha hồ lựa chọn. KH là người luôn mong muốn giá trị tối đa trong phạm vi túi tiền cho phép cùng trình độ hiểu biết, khả năng cơ động và thu nhập có hạn.
Họ đề ra một kỳ vọng về giá trị rồi căn cứ vào đó mà hành động. Sau đó họ tìm hiểu xem liệu thứ hàng hóa đó có phù hợp với kỳ vọng về giá trị đó không. Điều này ảnh hưởng đến mức độ thoả mãn của họ và xác xuất để họ mua nữa. Người mua đánh giá giá trị 5 của hàng hóa/dịch vụ rồi căn cứ vào đó mà hành động.
Nhưng sau khi mua rồi thì người mua có hài lòng hay không còn tùy thuộc vào quan hệ giữa kết quả hoạt động của món hàng và những mong đợi của người mua. Như vậy, sự thỏa mãn là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của người đó. Như vậy, kỳ vọng được hình thành trước khi sử dụng dịch vụ. Nhận thức là sự đánh giá của KH về dịch vụ đó.
Khi sử dụng dịch vụ, KH so sánh dịch vụ cảm nhận được với dịch vụ mong muốn và nếu thực tế sử dụng dịch vụ được đáp ứng hơn những mong muốn thì KH thấy hài lòng. Như vậy, mức độ thỏa mãn là hàm của sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng. KH có thể cảm nhận một trong ba mức độ thỏa mãn sau. Nếu kết quả thực tế kém hơn so với kỳ vọng thì KH sẽ không hài lòng.
Nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì KH sẽ hài lòng. Nếu kết quả thực tế vượt quá sự mong đợi thì KH rất hài lòng, vui sướng và thích thú. Kỳ vọng của người mua được hình thành như thế nào? Chúng được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm mua sắm trước kia của người mua, những ý kiến của bạn bề và đồng nghiệp, những thông tin cùng hứa hẹn của người làm Marketing và đối thủ cạnh tranh. Trong 4 nguồn thông tin tạo nên kỳ vọng của KH bao gồm: thông tin truyền miệng, các nhu cầu cá nhân, kinh nghiệm đã trải qua và các thông tin giao tiếp quảng cáo của DN, thì chỉ có nguồn tin thứ 4 là nằm trong tầm kiểm soát của DN.
Vì vậy giao tiếp khuếch trương như thế nào là vấn đề rất quan trọng. Quảng cáo cần hấp dẫn để thu hút KH, nhưng đồng thời cũng không được phóng đại quá những gì DN có thể phục vụ bởi vì khi đó dễ tạo nên kỳ vọng quá cao cho KH, DN không đáp ứng được, kết quả là KH không được thỏa mãn. Các kỳ vọng của KH: [4, tr 57] - Lý tưởng – mức ao uớc 6 - Mong đợi – muốn hay hy vọng nhận được - Đầy đủ - Mức dịch vụ tối thiểu mà khách hàng chấp nhận. - Vùng chấp nhận – Giữa dịch vụ đầy đủ và lý tưởng.
- Dự đoán – Tin tưởng sẽ nhận được trong mọi tình huống. Kỳ vọng KH cần được quản lý để DN đáp ứng kỳ vọng của KH phù hợp với thực tế của DN. Giai đoạn trước khi mua hàng: nghiên cứu xem KH mong đợi điều gì, truyền thông cho KH biết nên mong đợi điều gì, thường xuyên cung cấp các dịch vụ mà KH mong đợi giúp KH hình thành các kỳ vọng cụ thể. Giai đoạn trong khi thực hiện chuyển giao dịch vụ: Thông đạt với KH trong quá trình thực hiện dịch vụ, nếu có thể cần cải tiến dịch vụ để đáp ứng kỳ vọng KH, giải thích tại sao dịch vụ không thể cải tiến được.
Giai đoạn sau khi mua: Kiểm tra kỳ vọng có được đáp ứng không, phát triển các chương trình theo dõi, phát triển các giải pháp đối với KH không thoả mãn. Khái quát về công tác phục vụ khách hàng và chất lượng phục vụ khách hàng 1. Vai trò của công tác phục vụ khách hàng đối với doanh nghiệp Phục vụ KH ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong hệ thống chiến lược marketing và trong hoạt động kinh doanh của DN. Cùng với chất lượng của dịch vụ và uy tín hình ảnh của DN, phục vụ KH sẽ làm cho KH thoả mãn và hài lòng khi sử dụng dịch vụ.
Qua đó họ sẽ tin tưởng vào DN, chất lượng dịch vụ do DN cung cấp và trở thành một KH của DN cùng với những người bạn do họ giới thiệu. Một lời giới thiệu của KH có giá trị hơn rất nhiều lời quảng cáo của DN. Và vô tình họ đã trở thành công cụ quảng cáo đắc lực cho DN, giúp DN giảm được phần nào chi phí quảng cáo của mình - Marketing truyền miệng đã được thực hiện. [6, tr 31] 7 Do đó DN cần tập trung vào các biện pháp phục vụ KH, giữ được mức độ thoả mãn thường xuyên cho KH bằng cách tạo ra cơ chế để thu nhận thông tin ngược chiều để có hoạt động sửa chữa , điều chỉnh những sai lệch nhằm thoả mãn cho KH.
Ngoài ra, DN cũng cần phát hiện kịp thời sự thay đổi nhu cầu có liên quan đến phục vụ KH. Rất nhiều DN đã nhận thức được vị trí quan trọng của phục vụ KH và sử dụng nó như một công cụ cạnh tranh hiệu quả. Tóm lại, phục vụ KH có 1 số vai trò như sau: - Duy trì KH hiện tại và tạo ra KH trung thành - Thu hút KH tiềm năng trong trường hợp KH cảm thấy hài lòng. - Giảm chi phí kinh doanh: Trong trường hợp KH hài lòng DN sẽ không phải bỏ ra chi phí khắc phục hậu quả.
- Phục vụ KH là một vũ khí cạnh tranh quan trọng: Trong trường hợp những sản phẩm có chất lượng và tính năng như nhau thì việc KH quyết định chọn sản phẩm của nhà cung cấp nào phụ thuộc chính vào yếu tố con người. KH không chỉ mua giải pháp cho sản phẩm họ chọn mà còn mua cả yếu tố cảm giác khi tiêu dùng dịch vụ. Tạo được cảm giác tốt cho KH thì không ai khác ngoài chính những con người hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với KH. Trong điều kiện cạnh tranh khắc nghiệt thì con người càng trở thành yếu tố có vai trò tối quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh.
[3, tr 129] - Phục vụ KH không phải theo ý muốn chủ quan của DN cung ứng dịch vụ mà phải theo cách mà KH muốn và phải được thường xuyên cải tiến một cách sáng tạo.