mở đầu, phụ lục, luận văn gồm có 03 chương và được sắp xếp như sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng nhân lực Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nhân lực tại Ban Đối ngoại Trung ương Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại Ban Đối ngoại Trung ương KẾT LUẬN CHUNG 21 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC 1. Khái niệm về nhân lực Hiện nay, đối với thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng thì chất lượng nhân lực đang là mối quan tâm hàng đầu. Vậy “ Nhân lực” là gì? Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, nguồn nhân lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới và nhiều lĩnh vực khác nhau, tùy theo từng cách tiếp cận mà có những quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên hợp quốc: ”Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh cho rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ phát huy vào quá trình lao động sáng tạo vì sự nghiệp phát triển và tiến bộ xã hội.”(6) “Nguồn lực con người (hay còn gọi là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên người) là nhân tố con người được xem xét, dự tính như một tiềm năng, một điều kiện cần và có thể phát huy thành động lực cho một quá trình phát triển 22 xã hội, một chiến lược phát triển xã hội trong những thời gian, không gian xác định.”(3) Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực, nhưng ta có thể hiểu cơ bản nguồn nhân lực chính là nguồn lực của con người trong độ tuổi lao động xét cả về mặt số lượng và chất lượng, cung cấp sức lao động cho sự phát triển và tiến bộ cho xã hội. Về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ. Về chất lượng đó là tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực và tâm lực.
Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong cùng một tổ chức, mọi cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định, tham gia vào các hoạt động trong tổ chức. Quy mô và cơ cấu của bộ phận nguồn nhân lực của một tổ chức phụ thuộc khối lượng của công việc quản lý cần giải quyết và cách thức mà nhân viên thực hiện nó như thế nào. Do đó tùy thuộc vào quy mô của tổ chức và các yếu tố thuộc điều kiện bên trong và bên ngoài của tổ chức như: trình độ của nguồn nhân lực và cách thức quản lý nguồn nhân lực của các cán bộ quản lý, đặc điểm công việc và sự phức tạp của hoạt động, các quan hệ trong tổ chức, tình hình thị trường lao động và cạnh tranh, tình hình phát triển kinh tế đất nước, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.để lựa chọn quy mô và cơ cấu cho phù hợp. Chất lượng nhân lực, chất lượng nhân lực trong tổ chức Chất lượng nhân lực Từ khái niệm về nhân lực đã nêu ở trên thì chất lượng nhân lực được hiểu là là khả năng con người thực hiện, hoàn thành công việc, đạt được mục đích lao động.
Khả năng lao động đó bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực của người lao 23 động để thực hiện, hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ trong thời gian trước mắt và trong tương lai xác định. Trong đó, thể lực là nền tảng, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí lực là yếu tố quyết định chất lượng nhân lực, tâm lực là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực, trí tuệ thành thực tiễn. Chất lượng nhân lực trong tổ chức Được biểu hiện thông qua chất lượng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động trong tổ chức. Một tổ chức được đánh giá mạnh hay yếu, phát triển hay tụt hậu phụ thuộc phần lớn vào chất lượng nhân lực của tổ chức đó.
Nâng cao chất lượng nhân lực trong tổ chức Nâng cao chất lượng nhân lực của tổ chức chính là nâng cao nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động để đáp ứng được nhu cầu phát triển của tổ chức đó, thể hiện qua việc: Tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ trong một giai đoạn phát triển nhất định của tổ chức; tạo ra tiềm năng của con người thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại để có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề) đáp ứng được yêu cầu của tổ chức, đó là: có kiến thức chuyên môn, tin học; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc; chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa các tiềm năng trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc (phương tiện lao động có hiệu quả và các chế độ chính sách hợp lý,…) 24 môi trường văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của người lao động, để họ đem hết sức hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Vấn đề nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực từ trước tới nay luôn được nhiều nước, cũng như nhiều ngành nghề khác nhau quan tâm nghiên cứu. Nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như ngày nay đang làm thay đổi nhanh chóng đến nhân lực, đòi hỏi cần phải phát triển nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng được hội nhập cũng như cách mạng 4. Nội dung nâng cao chất lƣợng nhân lực 1.
Nâng cao Thể lực Theo Từ điển Tiếng Việt thì Thể lực là sức khỏe của cơ thể con người, nó bao gồm nhiều yếu tố cả về thể chất lẫn tinh thần, được phản ánh qua các tiêu chí về: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, tình hình bệnh tật, cơ sở vật chất và các điều kiện về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức khỏe cơ bắp trong công việc, thể lực của một người nhân viên là rất quan trọng trong quá trình lao động và học tập, nó là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực. Nếu không có thể lực tốt thì người nhân viên đó sẽ không chịu được sức ép của công việc và không thể tìm tòi, sáng tạo, nghiên cứu trong công việc. Thể lực của nhân viên được hình thành và phát triển bởi chế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc sức khỏe, chính vì vậy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phân phối thu nhập cũng như chính sách xã hội của nhà nước.
Nâng cao thể lực chính là nâng cao sức khỏe của cơ thể cũng như sức khỏe tinh thần của con người. Sức khỏe cơ thể là năng lực lao động chân tay, sự nhanh nhẹn, dẻo dai, khả năng chống được các yếu tố gây bệnh, khả năng 25 chịu được các điều kiện hắc nghiệt của môi trường; sức khỏe tinh thần là khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động thực tiễn, nó được thể hiện ở sự sảng khoái, cảm giác dễ chịu, ý nghĩ lạc quan, quan điểm sống tích cực, khả năng chống lại những quan điểm bi quan và lối sống không lành mạnh. Nâng cao thể lực cũng chính là nâng chiều cao, cân nặng trung bình; tăng tuổi thọ và giảm tình hình bệnh tật; có được thể lực tốt con người mới có thể lao động tạo ra điều kiện sống tốt hơn. Ngoài ra, việc rèn luyện và nâng cao thể lực còn có thể giúp hình thành và giáo dục được những phẩm chất đạo đức nhân cách của con người một cách tự nhiên như: ý chí, lòng dũng cảm, sự quyết tâm, tính kiên trì và nhẫn nại, ý thức đồng đội… làm lành mạnh đời sống văn hóa tinh thần của xã hội; đặc biệt là xây dựng niềm tin và lối sống cho thế hệ trẻ.
Nâng cao Trí lực Theo từ điển Tiếng Việt thì Trí lực là năng lực trí tuệ. Trí lực quyết định phần lớn khả năng lao động, sáng tạo của con người và được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao năng lực làm việc của nhân viên. Trí lực còn được hiểu là năng lực động não để tư duy, xem xét đánh giá, nhìn xa trông rộng như: tuệ giác, khả năng nhận thức, kiến thức, ý tưởng, nghiên cứu, năng động, sáng tạo, vận dụng sự hiểu biết để giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra,…nó là sự kết tinh bao gồm chắt lọc, cải tạo và chế tác tri thức. Khai thác và phát huy trí lực gồm trình độ tổng hợp từ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm sống và các kỹ năng mềm.
Trình độ văn hóa là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật; trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảm bảo cho nhân viên hoạt động mang tính chuyên môn và chuyên nghiệp hóa; kinh nghiệm sống được tích lũy qua quá trình học tập và lao động của 26 nhân viên; kỹ năng mềm theo từng ngành nghề, lĩnh vực là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong thời đại nền công nghiệp phát triển mạnh mẽ như ngày nay.