Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra thuế. Chương 2: Thực trạng chất lượng công tác kiểm tra thuế tại văn phòng cục Thuế tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra thuế tại văn phòng Cục thuế tỉnh Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA THUẾ 1.
Tổng quan về kiểm tra thuế 1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích, chất lượng, vai trò và ý nghĩa của kiểm tra thuế 1. Khái niệm về kiểm tra thuế Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, sự ra đời và tồn tại của thuế là một tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn lực vật chất nhất định để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ Trung ương đến Địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản; chi cho công việc chức năng của Nhà nước như: kinh tế, xã hội, chính trị, Quốc phòng, An ninh, chi cho xây dựng và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài.
Thuế là một bộ phận của cải của xã hội được tập trung vào quỹ NSNN, theo đó, các thể nhân, pháp nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho Nhà nước mà không gắn với bất kỳ sự ràng buộc nào về sự hoàn trả lợi ích tương quan với số thuế đã nộp, nhằm trang trải các chi phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và chi phí công cộng đem lại lợi ích chung cho cộng đồng. Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách. Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước. Hình thức đóng góp đó là thuế.
Để thu được thuế, Nhà nước đã thể chế hoá yêu cầu bắt buộc đóng góp nguồn lực tài chính cho NSNN đối với các thể nhân, pháp nhân. Nhà nước quy định nguyên tắc chung về nghĩa vụ nộp thuế của các thể nhân, pháp nhân 1 trong Hiến pháp - văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước. Đồng thời để thực hiện nguyên tắc pháp lý chung đó, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về thuế để điều tiết các khoản thu phát sinh trong quá trình vận động của các quan hệ kinh tế xã hội. Hoạt động quản lý Nhà nước về lĩnh vực thuế chính là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý (CQT) tới các đối tượng quản lý (NNT) nhằm đạt được mục tiêu động viên một phần thu nhập quốc dân vào Ngân sách Nhà nước (NSNN).
Do vậy, thanh tra, kiểm tra thuế chính là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động Lãnh đạo quản lý Nhà nước của CQT. Kiểm tra thuế là hoạt động xem xét tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra để đánh giá, nhận xét và xử lý của CQT đối với việc thực hiện pháp luật thuế của NNT và công tác quản lý, hành thu, kiểm tra của cán bộ thuế. Kiểm tra thuế là một trong những chức năng cơ bản của quản lý thuế theo mô hình chức năng. Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai, tự nộp thuế của NNT, CQT thực hiện các biện pháp giám sát, vừa đảm bảo khuyến khích sự tự nguyện tuân thủ, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế.
Thanh tra, kiểm tra thuế là biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp NNT nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ. Kiểm tra thuế là việc CQT xác định tính đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế. Từ đó có những đánh giá, xử lý đối với việc thực hiện pháp luật thuế của NNT và công tác quản lý, hành thu, kiểm tra của cán bộ thuế. Kiểm tra thuế là việc kiểm tra của CQT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT, nhằm bảo đảm Pháp luật thuế được thực thi nghiêm túc trong đời sống kinh tế - xã hội.
Đặc điểm của kiểm tra thuế Thuế là một lĩnh vực đặc thù, kiểm tra thuế là một chức năng trong công tác quản lý thuế nên cũng có những đặc thù riêng. Theo từng giai đoạn phát triển của công tác quản lý thuế, hoạt động kiểm tra cũng có những thay đổi như: Trước năm 2004 do có nhiều nguyên nhân, công tác kiểm tra mang tính chất áp đặt sự vụ và tính chủ quan của CQT, coi nhẹ các cơ sở phân tích khoa học từ các dữ liệu thu thập được. Từ năm 2004, khi áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp, đặc biệt là sau khi có luật QLT 2006 ra đời thì có thể nói các hoạt động kiểm tra đã được đổi mới theo hướng tiến bộ, minh bạch, khách quan hơn. - Kiểm tra thuế thực hiện trên một quy trình cụ thể: Hoạt động QLT thống nhất theo hệ thống ngành dọc, điều hành từ trên xuống dưới, quy trình được ban hành và thực hiện theo yêu cầu và cơ chế quản lý từng giai đoạn, yêu cầu xây dựng chuẩn hoá trình tự thực hiện các bước công việc phải tiến hành, quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, từng thành viên tham gia quy trình.
- Kiểm tra thuế được tiến hành trên cơ sở kỹ thuật quản lý rủi ro tuân thủ pháp luật thuế. Đó là khi NNT không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hiện hành về kê khai, nộp thuế, sử dụng sổ sách, chứng từ, hoặc các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế. Lúc này, công tác kiểm tra sẽ sử dụng các phương pháp và kỹ thuật phân tích để xác định, đánh giá, xếp loại rủi ro nhằm nắm bắt và thực hiện các hoạt động hạn chế rủi ro một cách có hiệu quả nhất theo mục tiêu đề ra. - Chủ thể của kiểm tra có thể đồng nhất, có thể không đồng nhất với đối tượng kiểm tra.
Chẳng hạn, khi đơn vị tự kiểm tra thì chủ thể và khách thể kiểm tra là một. - Tính chất của Kiểm tra là một hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực quản lý nhà nước, có thể là hoạt động quản lý đơn thuần. 3 - Đối tượng kiểm tra là các tổ chức, cá nhân trong ngành thuế, là người nộp thuế bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế. Kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế của NNT.
Để che giấu các hành vi trốn thuế, sai lầm, thiếu sót nhằm đảm bảo lợi ích vật chất của mình, các đối tượng nộp thuế thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác kiểm tra của CQT. Kiểm tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này. Để xác định đúng đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra, đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắm chắc các luật thuế, chuyên môn nghiệp vụ, tích luỹ kinh nghiệm mà còn phải nắm bắt được bản chất của các hoạt động kinh tế của đối tượng kiểm tra, tức là người cán bộ kiểm tra còn phải có sự am hiểu sâu rộng về kinh tế, giỏi về lĩnh vực kế toán, sâu sắc trong tư duy logic,… đồng thời, người cán bộ kiểm tra thuế cần phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất. Kiểm tra thuế là hoạt động có tính chất pháp lý cao, liên quan đến lợi ích kinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội.
Do đó, công tác kiểm tra thuế phải đảm bảo các yếu tố sau đây: Thứ nhất, kiểm tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan, minh bạch, trung thực, xử lý đúng hành vi vi phạm, không bao che, quy chụp cho các đối tượng được kiểm tra. Đây là những yêu cầu hàng đầu của kiểm tra thuế vì chỉ khi đạt được yêu cầu này mới đạt được mục đích của công tác kiểm tra thuế, mới làm cho kiểm tra thuế trở thành cán cân công lý, mới có đuợc sự tin tưởng của quần chúng nhân dân. Thứ hai, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến. Đảm bảo công khai, dân chủ, trung thực, khách quan là yêu cầu quan trọng của công tác kiểm tra thuế, vì thông qua đó phát huy được vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân trong 4 công tác giám sát tuân thủ pháp luật.
Yêu cầu kịp thời được đặt ra trong công tác kiểm tra thuế là nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý nhà nước, ngăn chặn đúng lúc các hành vi tiêu cực, tránh những tổn thất nặng nề cho nhà nước và cho nhân dân. Thứ ba, kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế, ngăn ngừa loại trừ những hành vi trốn lậu thuế. Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác kiểm tra thuế, đạt được yêu cầu này thì công tác kiểm tra thuế mới làm tròn nhiệm vụ và chức năng của mình. Mục đích của kiểm tra thuế Hoạt động kiểm tra thuế nhằm mục đích giúp người nộp thuế và CQT thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành.
Thông qua công tác kiểm tra, đảm bảo việc giám sát hồ sơ khai thuế của NNT là chính xác, chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế, xử lý kịp thời những vi phạm về thuế. Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của NNT và người thu thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực.