Lời mở đầu - Chƣơng 1: Tổng quan lý thuyết và hệ thống thuế tại Việt Nam. - Chƣơng 2: Giới thiệu mô hình và phát triển các giả thiết. - Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. - Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu.
- Chƣơng 5: Kết luận 123doc 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Một số khái niệm liên quan đến cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là quan hệ về tỷ trọng của từng loại vốn dài hạn bao gồm nợ, vốn cổ phần ƣu đãi và vốn cổ phần thƣờng trong tổng số nguồn vốn của công ty. Một cấu trúc vốn tối ƣu sẽ giúp doanh nghiệp gia tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời gia tăng giá trị của doanh nghiệp. Rủi ro tài chính của một doanh nghiệp là tính khả biến thêm của thu nhập mỗi cổ phần với xác suất gia tăng của mất khả năng chi trả bắt nguồn từ việc doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn có chi phí tài chính cố định ví dụ nhƣ nợ và cổ phần ƣu đãi trong cấu trúc vốn của mình.
Việc sử dụng đòn bẩy tài chính đƣa đến một gia tăng trong rủi ro cảm nhận đƣợc cho các nhà cung cấp vốn cho doanh nghiệp. Để bù đắp rủi ro gia tăng này, lợi nhuận đòi hỏi sẽ cao hơn. Các thay đổi cấu trúc vốn thƣờng chuyển các tín hiệu thông tin quan trọng về viễn cảnh tƣơng lai của doanh nghiệp đến nhà đầu tƣ. Lý thuyết cơ bản nhất về cấu trúc vốn có thể kể đến là lý thuyết của Modigliani và Miller (M&M) trong các nghiên cứu năm 1958 và năm 1963.
Trong nghiên cứu năm 1958, trƣờng hợp giả định rằng, không có thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), quan điểm của lý thuyết M&M cho rằng cấu trúc vốn không có ảnh hƣởng gì đến giá trị của công ty hoặc công ty không có cách nào để gia tăng giá trị bằng cách thay đổi cấu trúc vốn. Năm 1963, bằng việc đƣa thuế TNDN vào mô hình nghiên cứu, lý thuyết M&M 1963 đã kết luận “Trong điều kiện có thuế TNDN, giá trị của công ty có vay nợ bằng giá trị của công ty không có vay nợ cộng với hiện giá của “lá chắn thuế”. Tóm lại, nghiên cứu của M&M đã chỉ ra rằng, có mối liên hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn còn một số hạn chế thể hiện trong các giả định của mô hình nhƣ thực tế thị trƣờng vốn không hoàn hảo và luôn tồn tại chi phí đại diện trong quản trị doanh nghiệp….
123doc 9 Mặc dù lý thuyết về cấu trúc vốn đƣợc xem là vấn đề trung tâm của lý thuyết tài chính hiện đại từ thập niên 60 của thế kỷ thứ 20 nhƣng đây vẫn còn là vấn đề hết sức mới mẻ và chƣa thật sự thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà kinh tế và các nhà quản lý doanh nghiêp trong nƣớc vì một lý do đơn giản nhất là cách thức tài trợ của các doanh nghiêp Việt Nam còn khá đơn điệu, trông chờ vào nguồn vay ngân hàng là chủ yếu. Hơn nữa, do điều kiện nền kinh tế tài chính Việt Nam có những đặc thù khác biệt với những điều kiện giả định trong lý thuyết về cấu trúc vốn nên doanh nghiệp còn nghi ngờ về tính thực tế các lý thuyết này. Tuy nhiên, lý thuyết cấu trúc vốn đang có cơ hội ứng dụng ở Việt Nam khi số công ty cổ phần ngày càng tăng và thị trƣờng tài chính ngày càng phát triển mở rộng hơn. Bên cạnh đó, thị trƣờng chứng khoán Việt Nam qua những bƣớc chập chững ban đầu cũng đã bắt đầu đi vào hoạt động suôn sẻ hơn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện chính sách tài trợ năng động và đa dạng.
Cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp và cấu trúc vốn Ở các nƣớc Đông Á, chủ sở hữu kiểm soát hầu hết việc bỏ phiếu hơn là kiểm soát dòng tiền. Điều này cho phép các chủ sở hữu quyền kiểm soát có cơ hội can thiệp vào các quyết định của công ty và gia tăng khả năng chiếm đoạt tài sản nhiều hơn. Do khó khăn trong việc tổ chức các cổ đông phân tán nên một cổ đông – ngƣời nắm một tỷ lệ lớn cổ phiếu (khoảng từ 5% cổ phiếu trở lên) thực tế kiểm soát hoạt động của một công ty đƣợc định nghĩa là cổ đông kiểm soát ( La Porta, Lopez-de- Silanes & Shleifer, 1998; La Porta, Lopez-de-Silanes, Shleifer & Vishny, 1997; La Porta và cộng sự, 1999). Hiệu quả của các cổ đông kiểm soát đối với các quyết định tài chính nợ của công ty là không rõ ràng.
Một mặt, các cổ đông kiểm soát ƣa thích nợ bởi vì vốn chủ sở hữu có thể dẫn đến những cổ đông mới, điều này có thể đe dọa sự thống lĩnh của các cổ đông kiểm soát đƣơng nhiệm. Mặt khác, đứng trên phƣơng diệnlaf các nhà quản lý chuyên nghiệp, các cổ đông kiểm soát sẽ không thích vay nợ vì điều 123doc 10 này sẽ làm gia tăng việc kiểm soát, giám sát của các chủ nợ và những nghĩa vụ phải trả những khoản nợ định kỳ, điều này dẫn đến làm giảm khả năng xoay sở các nguồn lực của công ty. Cuối cùng, vấn đề hiệu quả của các cổ đông kiểm soát về tài chính nợ là một vấn đề thực nghiệm mở, chƣa có kết luận chính xác, cụ thể. Những nghiên cứu gần đây (Claessens, Djankov, Fan, & Lang, 2002; Shleifer & Vishny, 1997) cho rằng bởi vì phần lớn các cổ đông đều có chung một mối quan tâm đó là tối đa hóa lợi nhuận và quyền kiểm soát các tài sản doanh nghiệp, họ thƣờng tạo áp lực mạnh mẽ đối với các nhà quản lý thậm chí là một cuộc phế truất.
Điều này cho thấy việc giám sát các cổ đông kiểm soát có thể tạo ra mối quan hệ về lợi ích giữa ngƣời quản lý và ngƣời chủ sở hữu. Tuy nhiên, Claessens và các đồng sự (2002) cho thấy sự chênh lệch giữa quyền kiểm soát và quyền quản lý dòng tiền có liên quan đến việc giảm giá trị doanh nghiệp mà điều này lại phụ thuộc vào khoảng cách chênh lệch giữa quyền kiểm soát và quyền dòng tiền. Theo đó, dƣới cơ cấu sỡ hữu, các cổ đông kiểm soát có thể làm giảm bớt hiệu lực của sự quản lý cứng nhắc (tham quyền cố vị), nhƣng nó cũng tạo ra một hiệu ứng khác đó là sự khác biệt giữa quyền kiểm soát và quyền dòng tiền, điều này tạo nên một khe hở cho sự chiếm đoạt tài sản công ty. Thuế và cấu trúc vốn Lợi ích dễ thấy nhất của đòn bẩy công ty là khấu trừ thuế của các khoản thanh toán lãi vay.
Việc sử dụng thuế giúp tạo nên một khoản lợi ích, hay nói cách khác là tạo nên một tấm lá chắn thuế. Lợi ích từ tấm lá chắn thuế này thu hút các công ty sử dụng nhiều nợ đến mức có thể. Tuy nhiên, mặt khác, khi đòn cân nợ quá cao có thể làm giảm tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần và tiềm ẩn chi phí kiệt quệ tài chính. Với mức hỗ trợ thuế suất, các doanh nghiệp tạo ra mức thu nhập chịu thuế cao hơn, trong đó bao gồm nợ trong cơ cấu vốn của họ.
Bằng việc sử dụng thuế suất của các công ty dựa trên mã số thuế và lợi ích thuế nợ vay, Graham (1996a, 1996b) 123doc 11 đã chỉ ra rằng các công ty có mức thuế suất cao thƣờng phát hành nhiều nợ hơn các công ty cùng ngành có mức thuế suất thấp hơn. Hơn nữa, một số công ty thay đổi cơ cấu vốn của mình để đáp ứng với những thay đổi mã số thuế. Ví dụ, bằng cách sử dụng dữ liệu Hoa Kỳ năm 1986, Givoly, Hahn, Ofer, and Sarig (1992) cho rằng nợ của doanh nghiệp trở nên ít hơn sau khi đƣợc giảm thuế suất, đối với các công ty bị đánh thuế cao nhất thì nợ giảm nhiều nhất. Hiện nay hệ thống thuế Việt Nam có nhiều ƣu đãi để thu hút đầu tƣ, kinh doanh tại Việt Nam, tạo điều kiện kích cầu cho các doanh nghiệp vay nợ, gia tăng lƣu chuyển vốn.
So sánh với các nƣớc trong khu vực thì mức thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam đang ở mức trung bình có thể chấp nhận đƣợc. Do quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh diễn ra giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, đặc biệt sau khi gia nhập WTO, Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức, do vậy việc cải cách thuế trở nên vô cùng cấp thiết. Hiện tại thuế Thu nhập doanh nghiệp Việt Nam đang cải cách theo lộ trình: giảm thuế suất, mở rộng diện chịu thuế, khuyến khích sản xuất, đầu tƣ phát triển và đảm bảo nguồn ngân sách cho Nhà nƣớc. Bên cạnh đó Thuế doanh nghiệp Việt Nam cần đƣợc hoàn thiện bằng cách hệ thống hóa để loại bỏ khe hở, thắt chặt điều khoản để loại bỏ tình trạng lách thuế và trốn thuế một cách triệt để.
Vai trò của nợ và cấu trúc sở hữu trong việc giảm bớt các chi phí doanh nghiệp Lý thuyết về chi phí đại diện đƣợc đề cập đầu tiên trong nghiên cứu của Fama & Miller (1972), sau đó đƣợc phát triển sâu hơn trong nghiên cứu của Jensen and Meckling (1976). Lý thuyết này nhìn nhận một cơ cấu vốn tối ƣu cho doanh nghiệp do sự có mặt của chi phí đại diện. Chi phí đại diện phát sinh từ mâu thuẫn của cổ đông và nhà quản lý, gọi lại chi phí đại diện vốn chủ sở hữu. Lý thuyết hàm ý rằng một cá nhân sẽ làm cho cho chính bản thân mình tốt hơn so với việc đi làm thuê cho ngƣời khác.
Một nhà quản lý có sở hữu cổ phần của công ty sẽ làm việc nỗ lực hơn so với một nhà quản lý không phải là cổ đông của công ty. Phần trăm sở 123doc 12 hữu của các nhà quản lý càng ít, các chi phí mà họ tạo ra sẽ càng nhiều (làm ít giờ, tiêu dùng hoang phí, sƣ dụng tài sản công ty phục vụ cho mục đích cá nhân, các quyết định tài chính sai lầm…). Nhƣ vậy, lý thuyết đại diện giải thích vì sao các công ty có quy mô lớn, có dòng tiền tự do càng nhiều thƣờng có xu hƣớng sử dụng nhiều nợ hơn trong cơ cấu vốn của mình. Bên cạnh đó, một số công ty cũng theo xu hƣớng trả thƣởng cho nhà quản lý bằng cổ phần thay vì bằng tiền mặt nhƣ trƣớc đây.
Trong các tranh luận về chi phí doanh nghiệp, sở hữu và nợ doanh nghiệp là những vấn đề thay thế cho nhau trong việc kiểm soát các vấn đề của công ty.