CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG HỌC NGOẠI NGỮ NÓI CHUNG VÀ CHẤT LƯỢNG HỌC TIẾNG ANH NÓI RIÊNG 1. Các công trình nghiên cứu đã thực hiện Chất lượng học TA đang được xem là vấn đề nóng bỏng cần phải giải quyết tại các trường đại học (ĐH) và cao đẳng (CĐ) ở nước ta hiện nay. Vì vậy, trong thời gian qua đã có rất nhiều các nghiên cứu của các chuyên gia trong và ngoài nước xuất hiện trên các tạp chí khoa học bàn về các vấn đề liên quan xung quanh đề tài này. Xuất phát từ thực tế để đưa ra các phương hướng giải quyết hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng học tập tiếng anh của SV với mong muốn giúp ban lãnh đạo tại các trường cũng như giúp SV tìm ra các phương pháp nâng cao chất lượng học TA phù hợp nhất.
Dưới đây là một số bài viết có liên quan xung quanh luận văn: 1) GS.TS Hoàng Văn Vân (2009), đề tài khoa học “Nghiên cứu phát triển hệ thống các nhóm nội dung và phương pháp giảng dạy, nâng cao năng lực tiếng Anh cho sinh viên đại học và học viên cao học ở Đại học quốc gia Hà Nội đáp ứng nhu cầu hội nhập khu vực và toàn cầu hóa”, Trường ĐH Ngoại Ngữ - ĐH Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu trình bày các vấn đề có liên quan đến vai trò của TA trong bối cảnh toàn cầu hóa đã và đang diễn ra hiện nay. Tác giả sơ lược về tình hình dạy và học TA ở một số quốc gia trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng như khái quát tình hình dạy và học TA không chuyên ở một số trường ĐH Việt Nam và ở ĐH Quốc gia Hà Nội. Từ những cuộc khảo sát trên tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo TA không chuyên tại ĐH Quốc gia Hà Nội.
Và bài nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo TA không chuyên tại trường. Mặc dù vậy, nhưng mỗi trường ĐH đều có những điểm khác nhau mang tính đặc thù riêng của nó, và trường ĐHĐT cũng vậy. Do vậy việc điều tra tình hình dạy và học TA không chuyên của GS.TS Hoàng Văn Vân chỉ mang tính chất tham khảo cho luận văn nhằm giải quyết các vấn đề đang đặt ra tại trường ĐHĐT. 2) Nguyễn Quang Giao (2011), Luận án tiến sĩ “Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở Trường Đại học Ngoại Ngữ”, 6 Trường ĐH Quốc Gia Hà Nội.
Luận án đưa ra các cơ sở lý thuyết có liên quan đến việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành. Tác giả đưa ra các khái niệm cơ bản về chất lượng trong giáo dục (GD) nói chung, chất lượng trong quá trình dạy và học nói riêng. Khái lược sơ về hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy và học, đề cập đến các kinh nghiệm quốc tế về đảm bảo chất lượng ở cấp hệ thống và ở trường ĐH. Trên cơ sở lý thuyết, tác giả tiến hành tìm hiểu thực trạng đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành tại một số Trường ĐH NN, mà cụ thể tác giả nghiên cứu thực tiễn tại 03 trường: Trường ĐH NN - ĐH Quốc gia Hà Nội, Trường ĐH NN - ĐH Huế và Trường ĐH NN - ĐH Đà Nẵng thông qua khảo sát.
Từ đó tác giả xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở các trường ĐH NN. Hệ thống vận hành đảm bảo theo trình tự các bước: Xác định các lĩnh vực cần quản lý của hệ thống; xây dựng quy trình cho từng lĩnh vực quản lý; xây dựng chuẩn, tiêu chí đánh giá cho từng lĩnh vực quản lý; vận hành hệ thống; đánh giá hệ thống; điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống. Tuy nhiên, đề tài chỉ mới dừng lại trong việc nghiên cứu thực trạng tại 03 trường ĐH NN (thuộc khu vực miền Bắc và miền Nam). Do vậy việc áp dụng hệ thống này vào các trường ĐH NN trong cả nước nói chung, ĐH NN tại khu vực miền Nam nói riêng còn là vấn đề cần phải nghiên cứu thêm.
3) Müzeyyen Aykaç (2005), Luận văn thạc sĩ “Students’ and teachers’ attitudes toward the use of computer-mediated comunication voice and text chat as an instrutional resource to improve speaking skill”, Bilkent University. Luận văn nêu lên các lý thuyết về giảng dạy kỹ năng nói trong giao tiếp, trong hợp tác; trình bày về nội dung của kỹ năng nói. Luận văn còn trình bày các cộng nghê sử dụng trong khi thực hành kỹ năng nói như voiec chat và vai trò của voice chat trong việc sử dụng trong giảng dạy và các nhược điểm của nó. Cách thức sử dụng giao tiếp qua máy tính (CMC – Computer-Mediated Comunication) trong học tập và giảng dạy ngôn ngữ và hạn chế của công cụ này.
Sau khi tìm hiểu khái quát về voice chat, CMC, tác giả đã nêu lên các lý thuyết về thái độ, thái độ của GV và SV trong việc học ngôn ngữ nước ngoài. Kết thúc tìm hiểu về cơ sở lý luận, tác giả đã tiến hành điều tra về thái độ của SV đối với việc học 04 kỹ năng trong TA và ý kiến của SV về việc sử dụng CMC và trò chuyện bằng giọng nói nhằm pháp triển kỹ năng nói của SV. Song song đó, 7 tác giả cũng tiến hành điều tra GV với nội dung tương tự. Sau khi thu thập tác giả đã so sánh 02 nguồn dữ liệu của 02 đối tượng trên nhằm tìm hiểu thái độ của các đối tượng này với việc sử dụng các công cụ hỗ trợ kỹ năng nói, những khía cạnh tích cực và tiêu cực của loại hình công nghệ này.
Tác giả nhận thấy rằng hầu hết các đối tượng đều cho rằng công nghệ truyền thông thì hữu ích trong việc học ngôn ngữ, mặc dù thấy được sự hữu ích đó tuy nhiên lại hiếm khi sử dụng cho mục đích học TA. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng có thái độ tích cực là không đủ để sử dụng công nghệ trong giảng dạy ngôn ngữ. Thiếu kiến thức về loại hình công nghệ này sẽ tạo ra những thái độ tiêu cực. Từ kết quả này, tác giả đưa ra những gợi ý mang tính sư phạm nhằm ứng dụng công nghệ CMC và voice chat trong học nói.
Tuy nhiên, các gợi ý còn khá chung chung và tác giả không đưa ra các giải pháp rõ ràng vì vậy chưa giải quyết triệt để thực trạng. 4) Hoàng Bích Thủy (2008), Luận văn thạc sĩ “An investigation into the reality of teaching and learning speaking skills to the 2 rd year non-major English students at pre-intermediate level of proficiency at Ha Noi university of Industry”, trường ĐH Ngoại Ngữ - ĐH Quốc Gia Hà Nội. Luận văn tìm hiểu các khái niệm về ngôn ngữ giao tiếp trong giảng dạy, đặc điểm, điều kiện áp dụng kỹ năng nói và các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng kỹ năng nói trong dạy và học. Luận văn còn trình bày thêm các vấn đề thường xảy ra khi nói TA, động cơ học TA và phân lọai chúng.
Luận văn tiếp tục trình bày các vấn đề liên quan đến PP và thiết kế nghiên cứu, cách thức chọn mẫu trước khi tiến hành phân tích thực trạng dạy và học kỹ năng nói tại trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội thông qua việc mô tả các khóa học giao tiếp, mô tả SV và GV. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình dạy và học kỹ năng nói TA như cải thiện các phương tiện học tập và tài liệu giảng dạy, huấn luyện SV trở thành người nói TA hiệu quả, cải thiện trình độ chuyên môn và PP sư phạm cũng như trách nhiệm của GV trong việc dạy môn nói. Mặc dù tác giả đã đưa ra những PP nghiên cứu cụ thể, cơ sở lý thuyết vũng vàng, tuy nhiên nội dung thực trạng lại không được tác giả nghiên cứu sâu bằng cách PP định tính và định lượng mà đơn giản chỉ là mô tả thực trạng. Do vậy các giải pháp đưa ra chưa bám sát với thực trạng mà chỉ dựa trên quan điểm của tác giá.
5) Kiều Hằng Kim Anh (2009), Luận văn thạc sĩ “Use of Vietnamese in English language teaching in Vietnam: Attitudes of Vietnamese University Teachers and 8 Students”, trường ĐH Mở thành phố Hồ Chí Minh. Dựa vào các tài liệu về lịch sử của các PP giảng dạy ngôn ngữ tập trung vào việc sử dụng trong song ngữ trong giảng dạy, bài viết đã trình bày các lý thuyết về vai trò của PP giảng dạy ngôn ngữ, nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò tích cực của ngôn ngữ thứ nhất trong việc học ngôn ngữ thứ hai. Sau đó tác giả nghiên cứu các cơ sở lý luận về thái độ TA, từ đó tiến hành nghiên cứu thái độ của giảng viên ĐH Việt Nam đối với việc sử dụng của người Việt Nam trong giảng dạy TA tại Việt Nam. Tổng cộng có 12 giáo viên đến từ ba trường ĐH tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia vào nghiên cứu.
Kết hợp với việc nghiên cứu, tác giả đã điều tra người học về thái độ đối với việc học TA. Các dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi và phỏng vấn bán cấu trúc. Kết quả của nghiên cứu này đã hỗ trợ cho việc sử dụng tiếng Việt trong một số tình huống giảng dạy tiếng Anh, đặc biệt trong dịch thuật Việt – Anh – Việt. Các kết quả cũng nhấn mạnh rằng việc sử dụng tiếng Việt đễ hỗ trợ là không giống nhau ở tất cả các lớp học giảng dạy tiếng Anh.
Thay vào đó, nó sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh của một lớp học cụ thể. Mặc dù vậy, nhưng luận văn chỉ mang tính thống kê mô tả do vậy độ tin cậy của nghiên cứu là chưa cao. 6) Bùi Thị Ánh Nguyệt (2009), Luận văn thạc sĩ “Classroom activities to stimulate 10-form students’ presentation in English speaking lessons at marie curie high school, Hai Phong”, ĐH Quốc Gia Hà Nội. Luận văn trình bày các cơ sở lý thuyết về trình bày, thuyết trình và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thuyết trình của học sinh bao gồm sự lo âu, căng thẳng dẫn đến sự đánh giá tiêu cực và e ngại giao tiếp.
E sợ giao tiếp là đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ nước ngoài để giao tiếp; sự tự nhận thức, niềm tin về việc học ngôn ngữ, niềm tin về giáo viên giảng dạy. Nhận thức về những niềm tin của cả người học, cũng như các giáo viên, là điều cần thiết cho hiệu quả làm giảm sự lo lắng trong ngôn ngữ học; các yếu tố văn hóa xã hội.