CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ NGHIÊN CỨU VIÊN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Những khái niệm cơ bản Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về viên chức, viên chức KH&CN, nghiên cứu viên, chất lượng đội ngũ NCV. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả thống kê, tổng hợp và phân tích hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ NCV trong khu vực nhà nước, cụ thể là các đơn vị sự nghiệp công lập, vì vậy, tác giả tiếp cận nội hàm các khái niệm liên quan dựa trên quy định của các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý các cấp theo quy định của Bộ, ngành. Viên chức, đội ngũ viên chức Khái niệm viên chức Ở Việt Nam, trước năm 2008, nhìn chung chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ, công chức, viên chức.
Tất cả những người làm việc trong cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, hợp tác xã.gọi chung là cán bộ, công nhân viên chức nhà nước. Sau khi Luật Cán bộ công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2010, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019 được ban hành đã giúp phân định rõ ba đối tượng cán bộ, công chức, viên chức và phân biệt với người lao động theo quy định trong Luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành. Do Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019 không quy định bổ sung hoặc thay thế nên trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm viên chức theo quy định của Luật Viên chức năm 2010 do Quốc hội ban hành: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện nhiệm vụ theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [26, tr. Với khái niệm trên có thể khái quát một số đặc điểm của viên chức, bao gồm: Về quốc tịch, viên chức phải là công dân Việt Nam; Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, VTVL, tiêu chuẩn CDNN và quỹ tiền lương của ĐVSNCL; Viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng làm 10 việc trong các ĐVSNCL trực thuộc sự quản lý của Nhà nước; Lương của viên chức được nhận từ quỹ của ĐVSNCL.
Khái niệm đội ngũ viên chức Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ: Nguyễn Như Ý (1999) định nghĩa “Đội ngũ là một khối đông người cùng chức năng nghề nghiệp, được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng”[11]. Hoàng Phê (2003) định nghĩa “Đội ngũ là một tập hợp gồm một số đông người cùng có chức năng nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống nhất định”[10, tr. Từ các khái niệm trên, tác giả thống nhất khái niệm: Đội ngũ là một nhóm người được tập hợp thành một lực lượng để cùng thực hiện một hay nhiều chức năng; họ có thể cùng hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung lý tưởng, cùng chung mục đích và gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất và tinh thần. Mỗi ĐVSNCL luôn được bố trí một số lượng viên chức nhất định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.
Lực lượng này tạo thành đội ngũ viên chức của đơn vị. Đội ngũ viên chức là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, đồng thời là một bộ phận cấu thành nên NNL, được tuyển dụng từ NNL trên toàn quốc. Như vậy, đội ngũ viên chức được hiểu là tổng số người được tuyển dụng vào các vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập. Đội ngũ viên chức là lực lượng lao động (cả số lượng và chất lượng) mà ĐVSNCL sử dụng để duy trì và phát triển hoạt động theo chương trình, kế hoạch đề ra trong từng giai đoạn và thực hiện theo văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước về viên chức.
Viên chức khoa học và công nghệ Khái niệm viên chức khoa học và công nghệ chưa có khái niệm chính xác và cụ thể, căn cứ Luật Viên chức 2010, Luật KH&CN năm 2022, Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV, có thể đưa ra khái niệm: Viên chức khoa học và công nghệ là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập. Viên chức KH&CN được tuyển dụng và quản lý theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL theo quy định của pháp 11 luật. Viên chức KH&CN được tuyển dụng, quản lý và sử dụng để phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp các dịch vụ công về KH&CN. Theo văn bản quy định hiện hành, có thể phân loại viên chức KH&CN theo vị trí việc làm và theo chức danh nghề nghiệp, cụ thể: Theo chức danh nghề nghiệp: viên chức KH&CN được phân loại với các cấp độ từ cao xuống thấp bao gồm viên chức KH&CN giữ chức danh hạng I; hạng II; hạng III; hạng IV.
Theo Thông tư số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV, viên chức KH&CN được phân loại theo chức danh khoa học và chức danh công nghệ gắn với VTVL phù hợp với chuyên môn và năng lực trong tổ chức KH&CN công lập. Theo đó, nhóm chức danh nghiên cứu khoa học bao gồm: Nghiên cứu viên cao cấp (hạng I); Nghiên cứu viên chính (hạng II); Nghiên cứu viên (hạng III); Trợ lý nghiên cứu (hạng IV). Theo vị trí việc làm, viên chức KH&CN bao gồm: Viên chức quản lý KH&CN là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong ĐVSNCL nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý. Viên chức chuyên môn, nghiệp vụ là những người được cấp có thẩm quyền giao thực hiện các nhiệm vụ cụ thể hoặc thực hiện các tác nghiệp gắn với chuyên môn, nghiệp vụ trong ĐVSNCL về KH&CN.
Việc phân loại viên chức KH&CN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm quản lý đội ngũ viên chức KH&CN theo đối tượng, xây dựng, phát triển đội ngũ này phù hợp với tính chất và đặc điểm của từng loại viên chức. Nghiên cứu viên, đội ngũ nghiên cứu viên Khái niệm “nghiên cứu viên” được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và dùng để chỉ những người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Trong các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý của Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ, nghiên cứu viên là một trong các thứ hạng CDNN thuộc đội ngũ viên chức khoa học. Theo đó, có thể hiểu: Nghiên cứu viên là viên chức chuyên môn làm công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và ứng dụng có độ phức tạp đến mức trung bình trở lên tại các tổ chức nghiên cứu và phát triển KH&CN.
Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận và đề cập đến nghiên cứu 12 viên - những người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của một tổ chức. Nhiệm vụ của NCV bao gồm: Chủ trì thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở trở lên hoặc tham gia nhiệm vụ KH&CN cấp bộ, tỉnh; Trực tiếp nghiên cứu, tham gia các hoạt động điều tra, khảo sát, phục vụ nghiên cứu và hướng dẫn, kiểm tra các trợ lý nghiên cứu thực hiện các nội dung nghiên cứu, thí nghiệm được giao; tham gia các sinh hoạt học thuật chuyên ngành; Viết báo cáo tổng kết nhiệm vụ KH&CN, biên soạn tài liệu, thông tin nhằm phổ biến và ứng dụng rộng rãi các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Cụ thể, NCV cần có trình độ tối thiểu là đại học, có hiểu biết về lĩnh vực chuyên môn, trực tiếp nghiên cứu và triển khai ứng dụng KH&CN vào thực tiễn, có khả năng tổ chức nhóm nghiên cứu, điều hành và phối hợp công việc; Nắm được chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phát triển KH&CN của Đảng và Nhà nước; tình hình kinh tế - xã hội nói chung và các yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đối với lĩnh vực nghiên cứu; những thành tựu, xu hướng phát triển KH&CN quan trọng trong nước và trên thế giới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu; nội dung quản lý, phương pháp triển khai nghiên cứu, xử lý thông tin, đánh giá kết quả nghiên cứu KH&CN. Đội ngũ nghiên cứu viên: Mỗi ĐVSNCL về KH&CN luôn được bố trí một số lượng viên chức chuyên ngành KH&CN nhất định, trong đó có đội ngũ NCV để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.
Như vậy, đội ngũ nghiên cứu viên được hiểu là tổng số người được tuyển dụng vào các vị trí việc làm thuộc chức danh nghề nghiệp nghiên cứu viên trong đơn vị sự nghiệp công lập. Đội ngũ NCV là lực lượng viên chức khoa học (bao gồm tổng hòa các yếu tố về số lượng và chất lượng) mà ĐVSNCL sử dụng để duy trì và phát triển hoạt động KH&CN theo chương trình, kế hoạch đề ra trong từng giai đoạn và được thực hiện theo văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước, văn bản quản lý của các Bộ, ngành, đơn vị sự nghiệp công lập. Chất lượng đội ngũ nghiên cứu viên Chất lượng NNL nói chung, nhân lực KH&CN, chất lượng đội ngũ NCV nói riêng được tiếp cận theo nhiều mô hình khác nhau bao gồm: (1) kiến thức, kỹ năng, thái độ; (2) thể lực, trí lực, tâm lực; (3) trình độ văn hóa, trình độ 13 chuyên môn - kỹ thuật, lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ, kết quả thực hiện công việc…Đội ngũ NCV xét trong mối quan hệ với NNL là một bộ phận nhân lực quan trọng trong tổng thể nguồn nhân lực KH&CN của tổ chức và là tập con của NNL xã hội. Với đặc điểm này, những tiêu chí phản ánh chất lượng NNL cũng cơ bản phản ánh chất lượng đội ngũ NCV.
Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận chất lượng đội ngũ nghiên cứu viên thông qua các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp năng lực của từng NCV và cơ cấu đội ngũ NCV trong ĐVSNCL. Vì vậy, theo tác giả: Chất lượng đội ngũ nghiên cứu viên là tổng thể năng lực của từng nghiên cứu viên và cơ cấu đội ngũ nghiên cứu viên đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập.