CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ – PHƯỜNG – THỊ TRẤN Ở HUYỆN CÁI BÈ 1. Cơ sở lý luận về chất lượng cán bộ, công chức cấp xã – phường – thị trấn 1. Khái niệm về cán bộ, công chức 1. Khái niệm về cán bộ Cán bộ trong tiếng Việt thuật ngữ chỉ những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước (cơ quan dân cử, cơ quan hành chính) và thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Thuật ngữ Cán bộ còn chỉ chung cho những người mang trọng trách, công vụ và có những quyền hạn nhất định. Trong quân sự, cán bộ được dùng như từ đồng nghĩa với sĩ quan. Cán bộ cũng là danh xưng thường được những người dân chỉ về những người có quyền hành (cán bộ lãnh đạo, cán bộ cao cấp, cán bộ quản lý, cán bộ nguồn.), hay đang thụ lý giải quyết một vụ việc cho người dân (cán bộ thuộc dịch vụ công cộng). Khoản 1, Điều 4 Luật cán bộ, công chức (2008), Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [6].
Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999), Nguyễn Như Ý biên soạn, thì thuật ngữ cán bộ có hai nghĩa, là “Người làm việc trong cơ quan nhà nước”, và là “Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước” [13, tr. Như vậy, theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, quân đội, giữ một chức vụ nào đó; dưới góc độ hành chính, cán bộ được coi như những người có mức lương từ cán sự trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự. Khái niệm về công chức Theo Từ điển Tiếng Việt “Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp”. Như vậy, khái niệm công chức theo Từ điển Tiếng Việt không đề cập đến lực lượng làm việc trong cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội.
Các yêu cầu phải “được tuyển dụng”, “được bổ nhiệm” và “hưởng lương từ ngân sách nhà nước” không phải là điểm đặc trưng của riêng đối tượng công chức [12]. Khoản 2, Điều 4 Luật cán bộ, công chức (2008), cũng đã xác định “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [6]. Qua đó, có thể nói công chức là một khái niệm mang tính lịch sử và phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Sự khác nhau trong quan niệm về công chức được quyết định bởi các yếu tố thể chế chính trị, thể chế hành chính, truyền thống, sự phát triển kinh tế xã hội và các yếu tố văn hóa.
Tuy nhiên, công chức các nước thường có những dấu hiệu nhận biết chung. Bao gồm: Là công dân của nước đó; Được tuyển dụng bởi Nhà nước; Làm các công việc mang tính chất thường xuyên trong các cơ quan nhà nước; Được trả lương từ ngân sách Nhà nước; Được điều chỉnh bởi một luật riêng. Khái niệm về cán bộ, công chức cấp xã – phường – thị trấn Theo Khoản 3, Điều 4 Luật cán bộ, công chức (2008), “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó 6 Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [6]. Như vậy, có thể khái quát lại khái niệm về cán bô, công chức cấp xã như sau: Theo nghĩa rộng, CBCC cấp xã bao gồm các đối tượng: Cán bộ cấp xã; công chức cấp xã; những người hoạt động không chuyên trách.
Theo nghĩa hẹp, đó là thuật ngữ để chỉ những người làm việc cho các cơ quan quản lý nhà nước ở cấp xã bao gồm cán bộ cấp xã và công chức cấp xã. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã –phường – thị trấn 1) Khái niệm chất lượng Chất lượng là một phạm trù phức tạp và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (2010), chất lượng là: “Cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật: Chất lượng hàng hóa tốt”, và “Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia; phân biệt với số lượng: tăng trưởng số lượng đến mức nào thì làm thay đổi chất lượng” [13, tr. Dù ở mỗi lĩnh vực có quan niệm khác nhau, phương pháp đánh giá khác nhau về chất lượng, nhưng đều có điểm chung, đó là: chất lượng của đối tượng đánh giá là tổng hợp các yếu tố liên quan đến đối tượng đó, làm nên tác dụng, giá trị của đối tượng.
Như vậy, chất lượng là mức độ các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu. Khái niệm chất lượng có thể gắn với bất cứ thực thể nào: sản phẩm, dịch vụ, quá trình, hệ thống, tổ chức, con người, sự vật… Mức độ chất lượng có thể diễn đạt bằng các tính từ: xấu, trung bình, tốt, xuất sắc, tuyệt hảo… 2) Khái niệm đội ngũ Theo Đại từ điển tiếng Việt, đội ngũ được định nghĩa: “1. Tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng: đội ngũ chỉnh tề. Tập hợp số đông người cùng chức năng, nghề nghiệp: đội ngũ những người làm báo: đội ngũ những người viết văn trẻ” [13, tr.
Theo đó, khi nói đến một đội ngũ là nói đến một số lượng đông người có cơ cấu giới tính, dân tộc, tôn giáo, ngành nghề, tuổi đời, trình độ… khác nhau hợp thành tổ chức có chức năng, nhiệm vụ chính và đặc điểm hoạt động tương đối giống nhau. Đội ngũ CBCC không phải là tổng số giản đơn các CBCC, 7 mà còn là sự bố trí, phân công và phối hợp hoạt động giữa các CBCC làm nên sức mạnh để đội ngũ CBCC hoàn thành vai trò, nhiệm vụ của mình. Do vậy, khi đánh giá, xem xét đội ngũ CBCC của một tổ chức, cơ quan, địa phương nào đó phải xem xét ba yếu tố chủ yếu là: số lượng CBCC; cơ cấu CBCC và chất lượng các CBCC. 3) Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã – phường – thị trấn Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã – phường – thị trấn được phản ánh thông qua các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức, tình trạng sức khỏe của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ.
Mỗi cán bộ, công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất của đội ngũ cán bộ, công chức. Vì vậy, quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng của từng cán bộ, công chức với chất lượng của cả đội ngũ. Như vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã – phường – thị trấn là chất lượng của tập hợp cán bộ, công chức cấp xã – phường – thị trấn trong một tổ chức, địa phương. Chất lượng đội ngũ không phải là sự tập hợp giản đơn về số lượng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức.
Sức mạnh này bắt nguồn từ phẩm chất vốn có trong mỗi con người và nó được tăng lên gấp bội bởi tính thống nhất của tổ chức, của sự giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý và kỷ luật. Tóm lại, chất lượng của đội ngũ công chức bao gồm: Chất lượng của từng công chức: Cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức; trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng của từng công chức là yếu tố cơ bản để tạo nên chất lượng của cả đội ngũ. Chất lượng của cả đội ngũ với tính chất là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ cấu đội ngũ được tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý về số lượng và độ tuổi được phân bố trên cơ sở các địa phương, đơn vị và lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.
Do vậy, khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có thể được hiêu là tập hợp tất cả các thuộc tính của từng cán bộ, công chức cấp xã cùng sự phối 8 hợp hoạt động chặt chẽ cả về ý chí lẫn hành động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có khả năng đáp ứng yêu cầu, mục tiêu tại một thời điểm nhất định.