phần mở đầu giải thích về chuẩn mực kế toán của Vương quốc Anh: “Dịch vụ kiểm toán là sự kiểm tra độc lập, và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”. Ở Pháp: Dịch vụ kiểm toán là sự nghiên cứu kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình thực tế, không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định. Như vậy, dịch vụ kiểm toán được hiểu chung như sau: dịch vụ kiểm toán là một chức năng quản lý, là một quá trình mà trong đó, các kiểm toán viên có thẩm quyền, những người được đào tạo để có trình độ thích hợp, tiến hành một cách độc lập việc thu thập, xác minh, đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng có liên quan đến các hoạt động kinh tế - tài chính của một đơn vị và tổ chức kinh tế nhằm xác định và báo cáo mức độ phù hợp của các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực về kinh tế, tài chính và kế toán đã được thiết lập và pháp luật thừa nhận. Qua đó, kiểm toán còn đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả sử dụng nguồn tài chính cũng như hiệu năng quản lý của cá nhân, tổ chức.
Theo pháp luật Việt Nam quy định tại khoản 1, Điều 5 Luật Kiểm toán 2011: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp 6 z kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán” [20, Điều 5, Khoản 1]. Các loại dịch vụ kiểm toán + Kiểm toán báo cáo tài chính: “Là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán” [20, Điều 5, Khoản 9]. + Kiểm toán tuân thủ: “là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về việc tuân thủ pháp luật, quy chế, quy định mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện” [20, Điều 5, khoản 10]. + Kiểm toán hoạt động: “là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của một bộ phận hoặc toàn bộ đơn vị được kiểm toán” [20, Điều 5, khoản 11].
+ Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế và công việc kiểm toán khác. + Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính, thông tin tài chính và dịch vụ bảo đảm khác. Các dịch vụ liên quan đến hoạt động kiểm toán Tư vấn kinh tế, tài chính, thuế. Tư vấn quản lý, chuyển đổi và tái cơ cấu doanh nghiệp.
Tư vấn ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị của doanh nghiệp, 7 z tổ chức. Dịch vụ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán. Thẩm định giá tài sản và đánh giá rủi ro kinh doanh. Dịch vụ liên quan khác về tài chính, kế toán, thuế theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm của dịch vụ kiểm toán Về chủ thể thực hiện dịch vụ là công ty kiểm toán độc lập: Không phải bất kỳ công ty nào cũng có thể cung cấp dịch vụ này cho khách hàng mà chỉ có công ty kiểm toán độc lập mới được thực hiện chức năng này. Dịch vụ kiểm toán là một loại hình dịch vụ kinh doanh có điều kiện: Để thực hiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán công ty kiểm toán khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì phải có đủ các điều kiện để được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động thì công ty mới được hoạt động. Pháp luật điều chỉnh: Chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành và phải tuân thủ những nguyên tắc hoạt động đặc thù mà pháp luật quy định. Dịch vụ được thực hiện thông qua hợp đồng kiểm toán được ký kết giữa khách hàng và công ty kiểm toán.
Mục đích của kiểm toán là xác nhận mức độ tin cậy của thông tin trình bày trong báo cáo tài chính và các hồ sơ tài chính kế toán. Chức năng của kiểm toán Chức năng về kiểm tra và thẩm định thông tin kinh tế - tài chính: Đây là chức năng cơ sở mà kiểm toán viên sẽ sử dụng các phương pháp đặc thù để tiến hành kiểm tra thẩm định tính đúng đắn, trung thực, hợp thủ tục, hợp pháp, hợp lý của thông tin. Chức năng này gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán. Bản thân chức năng kiểm tra, thẩm định thông tin của kiểm toán cũng không ngừng phát triển và được thể hiện khác nhau tùy theo đối tượng của kiểm toán.
Kiểm tra và thẩm định là hình 8 z thức kiểm tra sau khi các hoạt động tài chính đã diễn ra. Quan hệ diễn ra giữa kiểm tra và thẩm định với các hoạt động kiểm toán là quan hệ giữa “cái chung và cái riêng”, giữa cái tổng thể và phương diện biểu hiện ra với tính chất là các nghiệp vụ cụ thể của tổng thể đó. Chức năng xác nhận và giải toả trách nhiệm: Thông qua chức năng kiểm tra và thẩm định thì kiểm toán viên dựa trên các bằng chứng xác thực thẩm định hay còn gọi là xác nhận thực trạng tài chính của đơn vị, xác nhận tính đúng đắn của thông tin đã được ghi nhận trên báo cáo tài chính (tính khách quan, trung thực…). Việc xác nhận đó đồng nghĩa với việc giải tỏa trách nhiệm cho những người cung cấp thông tin này.
Chức năng tư vấn của kiểm toán Thông qua kiểm tra và xác nhận từ góc nhìn của kiểm toán, kiểm toán viên sẽ thấy được những mặt mạnh, mặt yếu của thực trạng tài chính và đưa ra những ý kiến tư vấn cho cán bộ, nhân viên, cán bộ quản lý nhằm thiết lập lại kỉ cương tài chính và hướng tới hiệu quả, chất lượng. Thông qua hoạt động kiểm toán thì tổ chức kinh tế sẽ phát hiện ra những nội dung mà các định chế hay các quy phạm pháp luật còn có sơ hở, bất cập để kiến nghị các cơ quan hữu trách sửa đổi phù hợp. Trong quá trình kiểm toán nếu phát hiện những dấu hiệu nghiêm trọng về vi phạm pháp luật thì kiểm toán phải tư vấn với cơ quan pháp luật để họ thực hiện nhiệm vụ của họ. Phân biệt hoạt động kiểm toán độc lập với hoạt động kiểm toán Nhà nước và kiểm toán nội bộ Kiểm toán độc lập do doanh nghiệp kiểm toán thực hiện.
Kiểm toán Nhà nước kiểm toán các hoạt động tài chính nhà nước. Kiểm toán nội bộ kiểm toán trong từng đơn vị, cơ quan. 9 z Kiểm toán Nhà nước là hoạt động kiểm toán do cơ quan Kiểm toán Nhà nước tiến hành. Kiểm toán Nhà nước tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động, xác định độ tin cậy của các báo cáo tài chính, kiểm tra việc chấp hành các chính sách, chế độ của Nhà nước và đánh giá hiệu quả hoạt động tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước.
Kiểm toán Nhà nước là một tổ chức trong bộ máy quản lý của Nhà nước và kiểm toán viên Nhà nước là các viên chức Nhà nước. Kiểm toán Nhà nước được thành lập và hoạt động năm 1994 theo Nghị định 70/CP, ngày 11/07/1994 của Chính phủ và Nghị định số 93/2003/NĐ-CP ngày 13/8/2003. Sau đó Luật Kiểm toán nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/2006. Luật Kiểm toán nhà nước đã quy định: Kiểm toán Nhà nước “là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính Nhà nước do Quốc hội thành lập hoạt động độc lập và chỉ tuân thủ pháp luật; Kiểm toán Nhà nước có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với mọi cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước” [21, Điều 13, 14].
Kiểm toán Nhà nước bằng hoạt động kiểm toán có trách nhiệm đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí của nhà nước cụ thể như sau: Kiểm toán Báo cáo quyết toán Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Kiểm toán báo cáo tài chính của các Bộ, các cơ quan thuộc Quốc hội, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các đơn vị sự nghiệp công, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí của Nhà nước, 10 z báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc có vốn đầu tư của nhà nước và các cơ quan tổ chức khác. Kế hoạch kiểm toán hàng năm do Kiểm toán Nhà nước quyết định và báo cáo với Quốc hội, Chính phủ trước khi thực hiện. Ngoài việc, nhận xét, đánh giá và xác nhận việc chấp hành chính sách, chế độ tài chính, kế toán ở các đơn vị.
Kiểm toán Nhà nước còn có quyền góp ý và yêu cầu các đơn vị được kiểm toán sửa chữa những sai phạm và kiến nghị với cấp có thẩm quyền xử lý các vi phạm, đề xuất với Chính phủ những sửa đổi về cơ chế quản lý tài chính, kế toán cần thiết. Kiểm toán Nhà nước được đảm bảo tính độc lập trong quá trình hoạt động và thực hiện các cuộc kiểm toán. Kiểm toán độc lập (hay còn gọi là dịch vụ kiểm toán)vđược thực hiện bởi các kiểm toán viên độc lập, hành nghề trong các Công ty kiểm toán. Hoạt động chủ yếu của kiểm toán độc lập là kiểm toán báo cáo tài chính.