Luận án tiến sĩ: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kiểm toán liên tục tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của kiểm toán liên tục tại việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

283
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về kiểm toán liên tục tại Việt Nam

Kiểm toán liên tục (kiểm toán) là một phương pháp kiểm toán hiện đại, cho phép kiểm toán viên phát hành báo cáo kiểm toán ngay sau khi giao dịch phát sinh. Tại Việt Nam, sự phát triển của kiểm toán liên tục đang được thúc đẩy bởi nhu cầu ngày càng cao về thông tin tin cậy và kịp thời từ các bên liên quan. Bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng kiểm toán liên tục. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua để thực hiện hiệu quả phương pháp này.

1.1. Lý do cần thiết phải áp dụng kiểm toán liên tục

Sự gia tăng khối lượng dữ liệu và thông tin trong các doanh nghiệp đã tạo ra áp lực lớn đối với các hoạt động kiểm toán truyền thống. Kiểm toán liên tục giúp nâng cao tính hiệu quả và hiệu lực của kiểm toán, đồng thời đáp ứng nhu cầu thông tin kịp thời của người sử dụng. Theo nghiên cứu của AICPA, việc áp dụng kiểm toán liên tục có thể giúp phát hiện kịp thời các giao dịch bất thường, từ đó nâng cao khả năng quản lý rủi ro cho doanh nghiệp.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm toán liên tục

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của kiểm toán liên tục tại Việt Nam. Các nhân tố này bao gồm điều kiện hạ tầng công nghệ thông tin, sự chấp nhận của các doanh nghiệp và các quy định pháp lý liên quan. Đặc biệt, sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy áp dụng kiểm toán liên tục. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, nếu không có sự đồng thuận từ các bên liên quan, việc triển khai kiểm toán liên tục sẽ gặp nhiều khó khăn.

2.1. Điều kiện hạ tầng công nghệ thông tin

Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại là yếu tố quyết định cho việc thực hiện kiểm toán liên tục. Doanh nghiệp cần có hệ thống xử lý dữ liệu hiệu quả, bao gồm các phần mềm quản lý và phân tích dữ liệu. Theo nghiên cứu của Chan & Vasarhelyi, việc áp dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán không chỉ giúp tăng cường tính chính xác mà còn giảm thiểu thời gian thực hiện kiểm toán. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn chưa đầu tư đủ vào công nghệ, dẫn đến việc khó khăn trong việc áp dụng kiểm toán liên tục.

III. Thách thức trong việc triển khai kiểm toán liên tục

Mặc dù có nhiều lợi ích, việc triển khai kiểm toán liên tục tại Việt Nam vẫn gặp phải nhiều thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt về nguồn lực tài chính và nhân lực có chuyên môn. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của kiểm toán liên tục, dẫn đến việc không sẵn sàng đầu tư cho phương pháp này. Ngoài ra, các quy định pháp lý hiện hành cũng chưa hoàn thiện để hỗ trợ cho việc áp dụng kiểm toán liên tục một cách hiệu quả.

3.1. Thiếu hụt nguồn lực tài chính

Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, gặp khó khăn trong việc đầu tư cho công nghệ và đào tạo nhân lực. Theo khảo sát, khoảng 60% doanh nghiệp cho biết họ không đủ ngân sách để triển khai kiểm toán liên tục. Điều này dẫn đến việc họ không thể tận dụng được những lợi ích mà phương pháp này mang lại, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán và quản lý rủi ro trong doanh nghiệp.

IV. Đề xuất giải pháp thúc đẩy kiểm toán liên tục

Để thúc đẩy việc áp dụng kiểm toán liên tục tại Việt Nam, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức nghề nghiệp và doanh nghiệp. Cần xây dựng các chương trình đào tạo nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng cho các kiểm toán viên. Đồng thời, các chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp trong việc đầu tư công nghệ cũng cần được xem xét. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng kiểm toán mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

4.1. Tăng cường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cho các kiểm toán viên. Các tổ chức nghề nghiệp cần tổ chức các khóa học chuyên sâu về kiểm toán liên tục và công nghệ thông tin. Theo nghiên cứu của Vasarhelyi, việc nâng cao kỹ năng cho kiểm toán viên sẽ giúp họ tự tin hơn trong việc áp dụng các phương pháp kiểm toán hiện đại, từ đó nâng cao chất lượng kiểm toán tại các doanh nghiệp.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1) Lý do chọn đề tài Trong những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, những tiến bộ nhanh chóng của CNTT đã thay đổi cách thức các doanh nghiệp tổ chức và thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đó, các quá trình xử lý giao dịch trong nội bộ doanh nghiệp cũng như giữa doanh nghiệp với các bên có liên quan khác bên ngoài (nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng, chính phủ, v.v…) ngày càng được tự động hóa dựa trên nền tảng trao đổi dữ liệu điện tử. Sự “bùng nổ” về dữ liệu và thông tin liên quan đến các hoạt động của các doanh nghiệp một mặt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về tính kịp thời của thông tin trong việc ra quyết định của người sử dụng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, mặt khác lại đặt ra những vấn đề về tính tin cậy của dữ liệu và thông tin có thể được cung cấp theo thời gian thực (real-time information). Bối cảnh chung này đã đặt ra những thách thức to lớn cho tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động kiểm toán, với tư cách là các hoạt động đảm bảo nhằm gia tăng mức độ tin cậy chẳng những đối với thông tin (tài chính, phi tài chính) về các hoạt động của doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ hệ thống KSNB và QTRR nói chung của các doanh nghiệp. Với đặc trưng cơ bản của cách tiếp cận kiểm toán truyền thống, trong đó các kế hoạch kiểm toán thường được lập theo chu kỳ là hàng năm và việc thu thập bằng chứng kiểm toán dựa trên cơ sở chọn mẫu, các kết quả kiểm toán rõ ràng hướng về quá khứ hơn là hướng về tương lai, và do đó, cung cấp ít giá trị hơn cho người sử dụng trong việc ra quyết định trong thời đại “bùng nổ” về thông tin ngày nay.

Để ứng phó với thách thức này, giải pháp về KTLT (continuous auditing) đã được đề xuất và thực hiện xem như một cách tiếp cận mới nhằm giúp khắc phục những hạn chế của cách tiếp cận kiểm toán truyền thống, giúp duy trì và nâng cao chất lượng và hiệu quả và của các hoạt động kiểm toán trong điều kiện các quy trình xử lý giao dịch của các doanh nghiệp có mức độ tự động hóa ngày càng cao dựa trên nền tảng CNTT. Khái niệm về KTLT đầu tiên được chính thức đưa ra trong báo cáo nghiên cứu có nhan đề “Continuous Auditing” do Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ vi (American Institute of Certified Public Accountants – AICPA) và Hiệp hội Kế toán viên công chứng Ca-na-đa (Canadian Institute of Chartered Accountants – CICA) thực hiện vào năm 1999. Theo đó, KTLT được định nghĩa như là một phương pháp luận kiểm toán cho phép KTV phát hành các báo cáo kiểm toán bằng văn bản về vấn đề được kiểm toán đồng thời hoặc ngay sau khi giao dịch phát sinh (CICA/AICPA, 1999). Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (The Institute of Internal Auditors – IIA) và Hiệp hội Kiểm soát và Kiểm toán Hệ thống thông tin (Information Systems Audit and Control Association – ISACA), trong các hướng dẫn đã ban hành, đề cập đến KTLT như là các phương pháp kiểm toán, chủ yếu dựa trên việc sử dụng các kỹ thuật kiểm toán được hỗ trợ bởi máy tính (Computer- Assisted Audit Techniques –CAATs), được KTV nội bộ hoặc KTV HTTT thực hiện nhằm đánh giá tính hiệu lực của các thủ tục kiểm soát (TTKS) và/hoặc đánh giá rủi ro (ĐGRR) một cách liên tục (ISACA, 2010; IIA, 2015).

So với cách tiếp cận truyền thống, khác biệt đáng kể nhất của cách tiếp cận KTLT đó là, việc kiểm toán sẽ tiến hành cho toàn bộ giao dịch và theo một tần suất cao hơn (thường xuyên hơn) thay vì chỉ thực hiện định kỳ hàng năm trên cơ sở chọn mẫu. Chính vì vậy, việc áp dụng KTLT sẽ mang đến những lợi ích to lớn cho tất cả các bên có liên quan của các doanh nghiệp do giúp nâng cao tính minh bạch thông tin, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro (QTRR) (kể cả gian lận và hành vi không tuân thủ) và giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung. Cụ thể, việc thực hiện KTLT sẽ đem đến nhiều lợi ích cho các bên có liên quan trực tiếp đến hoạt động kiểm toán tại các doanh nghiệp, bao gồm: (1) NSD thông tin được kiểm toán, (2) doanh nghiệp được kiểm toán, và (3) KTV (độc lập và nội bộ) (Hao & Zhang, 2010). Thứ nhất, lợi ích trong dài hạn và lớn nhất của KTLT đó là, trong điều kiện môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng và tiến bộ nhanh chóng về CNTT, KTLT chính là giải pháp giúp đáp ứng nhu cầu cấp bách về thông tin tin cậy kịp thời (theo thời gian thực) của NSD thông tin bên trong cũng như bên ngoài (nhà đầu tư, ngân hàng, đối tác, cơ quan quản lý nhà nước…) doanh nghiệp (AICPA, 1997a; Alles, et al., 2002; Elliott, 2002; Tyagi, 2012; ACCA, 2013).

Thứ hai, thông qua vii việc các thử nghiệm kiểm toán được thực hiện một cách tự động, gần như đồng thời hoặc chỉ thời gian ngắn kể từ khi các giao dịch được cập nhật vào HTTT của doanh nghiệp (Chan & Vasarhelyi, 2011), KTLT có thể giúp doanh nghiệp được kiểm toán nâng cao: (1) khả năng phát hiện kịp thời các giao dịch bất thường (gian lận, sai sót) (Krass & Leibs, 2002; Kuhn & Sutton, 2006; Best, et al., 2009; Antonio, 2014), (2) khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của các quy định pháp lý liên quan đến KSNB (Daigle & Lampe, 2003; Nelson & Ambrosini, 2007), và (3) hiệu quả hoạt động QTRR của doanh nghiệp (Marks, 2010; Vasarhelyi, et al. Thứ ba, KTLT giúp nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động kiểm toán trong điều kiện tiến bộ nhanh chóng về CNTT, chẳng hạn giúp tự động thu thập bằng chứng kiểm toán đối với toàn bộ giao dịch ngay khi hoặc gần ngay sau khi các giao dịch phát sinh; các thủ tục kiểm toán được thực hiện nhanh chóng, chính xác, và đặc biệt là có thể thực hiện các thủ tục kiểm toán từ xa thay vì phải có mặt tại các cơ sở hoạt động của doanh nghiệp được kiểm toán (Rezaee, et al., 2001; Vasarhelyi, et al., 2004; Alles, et al. Trong nỗ lực thúc đẩy áp dụng KTLT vào thực tế, đã có nhiều nghiên cứu, chủ yếu tại Hoa Kỳ, được thực hiện nhằm tìm hiểu về các yếu tố liên quan đến sự hình thành và phát triển của KTLT. Nhiều nghiên cứu đi theo hướng tìm hiểu nhân tố thúc đẩy thực hiện KTLT, nhiều nghiên cứu khác, trái lại, được thực hiện nhằm tìm hiểu nhân tố gây trở ngại đối với sự đổi mới phương pháp luận kiểm toán truyền thống theo hướng tiếp cận KTLT.

Một số nghiên cứu tiêu biểu bao gồm các nghiên cứu về yếu tố nhu cầu về KTLT (AICPA, 1997a; The Panel on Audit Effectiveness, 2000; Rezaee, et al., 2001; Alles, et al., 2002; Elliott, 2002; Daigle & Lampe, 2003; Brown, et al., 2007; Omoteso, et al., 2008; Byrnes, et al., 2015a), các nghiên cứu về yếu tố điều kiện thực hiện KTLT (Groomer & Murthy, 1989; CICA/AICPA, 1999; Rezaee, et al., 2002; Debreceny, et al., 2003; Murthy & Groomer, 2004; Brown, et al., 2007; Kuhn & Sutton, 2010; Teeter, et al., 2010; Chan & Vasarhelyi, 2011; Kiesow, et al., 2014), và các nghiên cứu về trở ngại đối với KTLT (PwC, 2006; KPMG, 2010; KPMG, 2012) tại các doanh nghiệp lớn, chủ yếu là ở Hoa Kỳ, Ca-na- viii đa,. Có thể thấy rằng hầu hết các nghiên cứu về KTLT đều được thực hiện tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới và CNTT được áp dụng sâu rộng, như Hoa Kỳ, Ca-na-đa, Anh, Úc. Do đó, kết quả nghiên cứu tại các quốc gia này sẽ không phù hợp hoàn toàn với các quốc gia đang phát triển, CNTT chưa phát triển cao, hoạt động kiểm toán còn non trẻ (như Việt Nam). Tại Việt Nam, trên cơ sở nhận thức “CNTT và truyền thông là động lực quan trọng góp phần đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển bền vững của đất nước, nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động của cơ quan nhà nước, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân” - Thủ tướng Chính phủ (TTCP) đã ký quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông” với mục tiêu tổng quát là nhằm đẩy mạnh “ứng dụng hiệu quả CNTT trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh”.

Riêng trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán, ngày 18/3/2013, TTCP cũng đã ký quyết định số 480/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030” trong đó nêu nhiệm vụ “Xây dựng hệ thống thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý trên cơ sở công nghệ hiện đại thông qua việc xây dựng hệ thống kết nối thông tin trực tuyến đủ mạnh tại các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán; Xây dựng ngân hàng dữ liệu để quản lý và giám sát việc hành nghề kế toán, kiểm toán; kết nối thông tin giữa các đơn vị cấp trên, cấp dưới đảm bảo cho việc hợp nhất BCTC của toàn hệ thống”. Để thực hiện những chủ trương trên, trong những năm qua các cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành hàng loạt các luật, nghị định và thông tư nhằm định hướng phát triển CNTT nói chung và đặc biệt là về giao dịch điện tử trong lĩnh vực ngân hàng, thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội,… nói riêng. Mục tiêu chính của chủ trương này là nhằm tạo ra một hạ tầng pháp lý thích hợp, thúc đẩy nhanh tiến trình đưa các tổ chức, cơ quan chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam sớm trở thành những tổ chức “số hóa”. Chủ trương này rõ ràng đang tạo ra một nhu cầu tiềm tàng về KTLT trong các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các doanh nghiệp tại Việt Nam bởi vì, như đã trình bày trên về những lợi ích của KTLT, cách tiếp cận ix kiểm toán này rất cần thiết được xem xét như một định hướng phát triển cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn nhằm giúp khắc phục một số hạn chế như thiếu thông tin tin cậy kịp thời cho NSD để ra quyết định và thiếu hụt về nguồn lực KTV độc lập và nội bộ so với yêu cầu của các hoạt động kiểm toán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Những nhân tố ảnh hưởng đến kiểm toán liên tục tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tác động đến quy trình kiểm toán liên tục trong bối cảnh Việt Nam. Tác giả phân tích các yếu tố như công nghệ, quy định pháp lý, và sự phát triển của thị trường, từ đó chỉ ra tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp kiểm toán hiện đại để nâng cao hiệu quả và độ tin cậy của báo cáo tài chính. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ các nhân tố này, giúp họ có cái nhìn tổng quan hơn về ngành kiểm toán và những thách thức mà nó đang đối mặt.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Đồ án hcmute quy trình xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán tại công ty tnhh kiểm toán vaco vaco, nơi bạn sẽ tìm hiểu về quy trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán. Ngoài ra, bài viết Tiểu luận quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán sẽ giúp bạn nắm bắt cách thức lập kế hoạch kiểm toán hiệu quả. Cuối cùng, bài viết Hoàn thiện việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty tnhh kiểm toán immanuel thực hiện sẽ cung cấp thêm thông tin về các thủ tục phân tích trong kiểm toán. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và nâng cao kỹ năng trong lĩnh vực kiểm toán.