chương 1, tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn và tóm lược các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm lý do hình thành đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; nội dung nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; đóng góp của đề tài và bố cục luận văn. 13 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ CHO VAY TIÊU DÙNG KHÔNG ĐẢM BẢO BẰNG TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. DỊCH VỤ CHO VAY TIÊU DÙNG KHÔNG ĐẢM BẢO BẰNG TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Khái niệm Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2010) thì CVTD không đảm bảo bằng tải sản là một hình thức cấp tín dụng, qua đó ngân hàng cho khách hàng là cá nhân vay một lượng tiền nhất định phục vụ mục đích tiêu dùng căn cứ trên uy tín của bản thân khách hàng mà không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo đảm của người thứ ba.
Vay tiêu dùng không đảm bảo bằng tài sản là nguồn tài chính quan trọng giúp cá nhân hoặc hộ gia đình trang trải nhu cầu về nhà ở, mua sắm phương tiện đi lại, đồ dùng gia đình hay những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế, du lịch… mà không phục vụ trực tiếp cho mục đích sản xuất kinh doanh. Định nghĩa về CVTD không đảm bảo bằng tài sản có thể khác nhau ở nhiều tác giả nhưng nội dung cơ bản là giống nhau, cùng đề cập đến mục đích của loại cho vay này là phục vụ mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình, những người có nhu cầu nâng cao mức sống nhưng chưa có khả năng chi trả trong hiện tại. Ngân hàng phát triển dịch vụ này nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và thu được gốc hoàn trả cùng lợi nhuận cao từ khoản vay. Đặc điểm Theo tác giả Tô Ngọc Hưng (2014) trong giáo trình Tín dụng ngân hàng của Học viện Ngân hàng, CVTD không đảm bảo bằng tài sản có những đặc điểm sau: CVTD không đảm bảo bằng tài sản có tính nhạy cảm theo chu kỳ của nền kinh tế: Thu nhập của mỗi người phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố quan trọng là chu kỳ của nền kinh tế.
Khi nền kinh tế phát triển, mọi người kỳ vọng rằng trong tương lai thu nhập của mình sẽ tăng cao và họ có khả năng chi tiêu nhiều hơn. Đồng thời nhà sản xuất được khuyến khích sản xuất ra nhiều mặt hàng đa dạng về 14 mẫu mã, chủng loại cũng như nâng cao được chất lượng sản phẩm, từ đó khuyến khích được nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Nếu thu nhập của người dân không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, họ sẽ phát sinh nhu cầu vay vì họ tin rằng nền kinh tế lạc quan, họ chắc chắn sẽ hoàn trả được khoản vay. Các ngân hàng cũng lạc quan về nền kinh tế nên mở rộng quy mô tín dụng.
Do đó, CVTD không đảm bảo bằng tài sản sẽ phát triển khi nền kinh tế tăng trưởng. Ngược lại, với nền kinh tế suy thoái thì quy mô CVTD sẽ bị thu hẹp. Quy mô CVTD không đảm bảo bằng tài sản thường nhỏ: Đặc điểm này xuất phát từ đối tượng khách hàng của CVTD là cá nhân và hộ gia đình. Họ thường vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng khi mà tích lũy chưa đủ khả năng chi trả.
Vì vậy, các khoản CVTD thường có quy mô nhỏ nhưng số lượng khoản vay lại lớn do số lượng khách hàng lớn và nhu cầu chi tiêu đa dạng. Xét ở khía cạnh rủi ro như nhau và các nhân tố khác tương đương, chỉ khác về quy mô thì lãi suất CVTD sẽ cao hơn lãi suất của các loại hình thức cho vay khác do tính chất nhỏ lẻ của từng khoản vay. Nguồn trả nợ không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhập, thu nhập này có thể thay đổi tùy theo tình trạng sức khỏe, công việc cũng như cơ cấu, chu kỳ của nền kinh tế. Do vậy, khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định, có trình độ học vấn là những tiêu chí quan trọng để các NHTM quyết định việc cho vay.
Dễ thấy CVTD không đảm bảo bằng tài sản tồn tại nhiều rủi ro hơn các hình thức cho vay có thế chấp bằng tài sản, nguyên nhân phát sinh rủi ro có thể xuất phát từ chính bản thân người vay (chủ quan như thiện trí trả nợ hay khách quan như sự cố mất việc, mất thu nhập, thương tật, tử vong…) Chất lượng thông tin khách hàng cung cấp không cao: Đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình thông tin làm cơ sở phân tích để ngân hàng quyết định cho vay hay không là thông tin về nghề nghiệp, thu nhập, độ tuổi, tình trạng sức khỏe, nơi cư trú v. Những thông tin này do chính khách hàng 15 cung cấp do vậy mang tính chủ quan, một chiều, không được kiểm toán, kiểm soát như đối với khách hàng doanh nghiệp; dễ thay đổi theo thời gian và do đó có thể thông tin không chính xác, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng. Lãi suất CVTD không đảm bảo bằng tài sản cao: Do quy mô của các khoản vay thường nhỏ dẫn đến chi phí cho vay cao (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản vay cao), đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro do không có tài sản thế chấp cầm cố, ảnh hưởng đến sự an toàn vốn của ngân hàng. Vì vậy, khách hàng muốn nhận tài trợ theo hình thức cho vay này phải chịu mức lãi suất cao hơn cho vay thông thường.
Mức lãi suất này giúp đảm bảo cho ngân hàng có thể hạn chế được rủi ro và cân đối được thu nhập chi phí trong những trường hợp có sự cố ngoài ý muốn xảy ra. CVTD không đảm bảo bằng tài sản ít nhạy cảm với lãi suất: Với thời hạn vay tối đa 5 năm tương đối ngắn hơn các hình thức cho vay khác, các ngân hàng triển khai sản phẩm CVTD thường cố định lãi suất cho vay cho khách hàng trong suốt thời hạn vay. Khách hàng vay cũng thường quan tâm đến những tiện ích và giá trị mà nó đem lại nhằm thỏa mãn cho nhu cầu tiêu dùng hơn là chi phí phải trả cho khoản vay đó. Mặc khác, với số tiền vay nhỏ, số tiền thanh toán theo định kỳ không quá lớn, không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập của khách hàng nên khách hàng dễ chấp nhận mức lãi suất cố định này.
Phân loại Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2010), CVTD không đảm bảo bằng tài sản rất đa dạng. Tùy theo tính chất khác nhau mà CVTD không đảm bảo bằng tài sản có thể chia thành nhiều loại: 2. Căn cứ theo mục đích vay CVTD cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình. Đặc điểm của các khoản vay này thường giá trị lớn hơn các nhu cầu khác, thời hạn vay từ 3 đến 5 năm, đem lại nguồn thu ổn định cho ngân hàng.
Rủi ro của các khoản cho vay này chịu ảnh hưởng bởi biến động của thị trường bất động sản. 16 CVTD phi cư trú: Là các khoản vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí, du lịch… Các khoản vay này thường có giá trị không cao và có thời hạn vay ngắn hơn. Căn cứ theo phương thức hoàn trả CVTD trả góp: Là hình thức CVTD trong đó người đi vay trả nợ cho ngân hàng (cả số tiền gốc và lãi) theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc/ và thu nhập trong định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ.
CVTD phi trả góp: Theo phương thức này, tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng một lần khi đến hạn, áp dụng với cá khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn lớn. CVTD tuần hoàn: Là các khoản CVTD trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc được phép thấu chi trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng. Loại vay này dễ áp dụng, thuận tiện cho khách hàng trong việc chủ động sử dụng nguồn tiền linh hoạt, thông thường đây là những khoản vay nhỏ, khách hàng có nguồn tiền ra – vô thường xuyên.
Cho vay qua thẻ là một loại hình cho vay phổ biến của tín dụng tiêu dùng tuần hoàn, với một hạn mức được cấp, khách hàng có thể rút vượt số dư trên tài khoản của mình, đặc biệt là thị trường thẻ ở Việt Nam trong những năm gần đây đã phát triển với tốc độ nhanh chóng. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ CVTD gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua những khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng. Trong trường hợp này, công ty bán lẻ và ngân hàng ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng kỹ thuật được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu.
Sau đó công ty 17 bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hóa. Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản, công ty bán lẻ sẽ giao hàng hóa cho người tiêu dùng và bán bộ chứng từ bán chịu này cho ngân hàng. Người tiêu dùng sẽ thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng. CVTD trực tiếp: Là các khoản CVTD trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này.
So với CVTD gián tiếp, CVTD trực tiếp có những ưu điểm sau: CVTD trực tiếp thường có chất lượng nợ tốt hơn; linh hoạt hơn; dễ mang đến cho ngân hàng lợi ích do được tiếp xúc khách hàng, bán chéo thêm các sản phẩm khác. Các hình thức CVTD trực tiếp: Một là tín dụng trả theo định kỳ: Đây là phương thức sử dụng khá phổ biến hiện nay.