Chương I: Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ bán lẻ Chương 2: Tổng quan của công ty cổ phần đầu tư Thế giới di động và các cửa hàng Thế giới di động tại tỉnh Điện Biên Chương 3: Đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ bán lẻ điện thoại của công ty Thể giới di động tại tỉnh Điện Biên Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ bán lẻ điện thoại của Công ty Thể giới di động tại tỉnh Điện Biên. CHUONG 1 CƠ SỞ LY LUAN VE CHAT LUQNG DICH VU BAN LE 1. Cơ sở lý thuyết về dịch vụ 1. Khái niệm dịch vụ Hiện nay có nhiều khái niệm dịch vụ được sử dụng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, maketing.
Theo Philip Kotler (2004) cho rằng Dịch vụ là mọi hành động, kết quả mà một bên có thé cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Bitner (2000) đã đưa ra khái niệm về dịch vụ được sử dụng nhiều nhất như sau: Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thoả mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. 'Từ đó có thể đưa ra kết luận dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, có tính đặc thủ riêng.
dịch vụ không thể sờ, nắm, nó vô hình không xác định, có sự cạnh tranh cao, có sự trợ giúp của các yếu tố khoa học kỹ thuật, có sự điều chỉnh của pháp luật, được hỗ trợ bởi các chính sách của Nhà nước. Phân loại dịch vụ Theo phương pháp loại trừ: dịch vụ là hoạt động không sản xuất ra sản phẩm. Bao gồm như dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ viễn thông, dịch vụ công cộng, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. “Theo tần suất liên hệ với khách hàng: Có loại loại hình dịch vụ mà người cung cấp phải thường xuyên liên lạc với khách hàng, thu nhận và xử lý thông tin để thực hiện dịch vụ tiếp theo.
Các loại dịch vụ như dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ khách san, dịch vụ Giao thông công công, dich vụ pha trộn, dich vụ về bắt động sản, dịch vụ máy tính, dịch vụ hàng không. Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ là hoạt động làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng, sản phẩm dịch vụ là một sản phẩm vô hình. khách hàng chỉ cảm nhận được sự tồn tại của dịch vụ thông qua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin. dịch vụ có những đặc tính như.
sau: -Tính không đồng nhất: CLDV phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố không. kiểm soát được như: thời gian, địa điểm, môi trường, điều kiện cung cấp, đối tượng phục vụ. gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau, cũng như. không thể chắc chắn được dịch vụ có tương đồng với dịch vụ được công bồ.
-Tính vô hình: dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể cân đong đo. đếm một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất. khách hàng cũng không thể nhìn thấy, cầm, nắm, ngửi. dịch vụ trước khi mua, do vậy không thể biết được CLDV trước khi sử dụng dịch vụ đó.
-Tính không thể cất giữ: dịch vụ kết thúc ngay sau khi sử dụng sản phẩm dịch vụ. địch vụ không thể lưu trữ như các sản phẩm vật chất. Sản phẩm vật chất dự trữ sau khi sản xuất chờ tiêu thụ nhưng dich vụ thì không. DV thi không thể lưu trữ, trao đổi, mua bán hoặc sử dụng lại.
Việc sản xuất hay cung ứng dịch vụ với quy mô lớn rất khó khăn. ~Tính thiếu cân đối : Việc sản xuất, cung ứng dịch vụ với quy mô lớn rất khó khăn. Trong khi đó, mức độ ồn định trong nhu cầu dịch vụ cao hơn sản phẩm vật chất nên rất khó đồng bộ cung và cầu dịch vụ. -Tinh không thể tách rời: dịch vụ không có sự tách biệt giữa sản xuất và tiêu thụ.
Một dịch vụ được tiêu dùng khi nó đang được tạo ra và khi ngừng quá trình cung ứng cũng đồng nghĩa việc tiêu dùng dịch vụ đó dừng lại. Chất lượng dịch vụ 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ Có rất nhiều khái niệm về CLDV, theo quan điểm hướng về khách hàng CLDV là việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Do nhu cầu của con người là đa dạng và phức tạp nên CLDV cũng sẽ có nhiều cấp mức tuỳ theo đối tượng khách hàng.
‘Theo quan điểm ngành dịch vụ: CLDV phụ thuộc nhiều vào con người cung. ứng dịch vụ. Do vậy CLDV khó có tính ổn định và CLDV mà khách hàng cảm nhận phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài: Môi trường, cơ sở vật chất, cách mà nhân viên phục vụ. Đặc điểm chất lượng dịch vụ - Tính vượt trội: Dịch vụ không giống nhau giữa các nhà cung ứng, đây là đặc điểm để phân biệt giữa các nhà cung ứng dịch vụ khác nhau.
Chính vì vậy, chấ lượng dich vụ trở thành thế mạnh cạnh tranh của nhà cung cấp dịch vụ. - Tính đặc trưng: Vì sản phẩm của dịch vụ cao cấp thường hàm chứa nhiều nét đặc trưng hơn so với dịch vụ cấp thấp. Đặc điểm này có ý nghĩa đối với việc đánh giá CLDV từ phía khách hàng trong hoạt động marketing. - Tinh thỏa mãn: Hiện nay, các nhà cung cấp dịch vụ phải luôn hướng đến nhu cầu khách hàng và cố gắng hết sức đề đáp ứng các nhu cầu đó.
Như vay, CLDV đã hình thành từ khi doanh nghiệp bắt đầu đầu nắm bắt nhu cầu của khách hàng. - Tính cung ứng: Đây là những yếu tố bên trong phụ thuộc vào năng lực của. nhà cung cấp dịch vụ. Vì vậy, để thay đổi CLDV phải nâng cao những yếu tố bên trong để tạo nên năng lực và lợi thế cạnh tranh lâu dài trong hoạt động cung cấp dịch vụ khách hàng.
*Tinh tao ra giá tri: dịch vụ có chất lượng cao là dịch vu tạo ra các giá trị không chỉ đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà còn vượt hơn hẳn các mong muốn của khách hàng và tạo sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Như vậy, tính tạo ra giá trị làm cơ sở cho việc phát triển CLDV 1. Các yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ “Trong khi đo lường chất lượng sản phẩm hữu hình có tiêu chuẩn quy định rõ ràng không phải bàn tính đến thì đo lường CLDV là điều không dễ. Sự khó khăn, phức tạp này bắt nguồn từ các đặc tính khác biệt của dịch vu, quá trình nhận biết, nhận dạng quan điểm của khách hàng về CLDV bắt đầu với việc xác định nhu cầu của khách hàng hoặc các yêu tố của chất lượng.
Tuy một vài yếu tố chất lượng được khái quát hóa và phổ biến cho nhiều lại hình dịch vụ nhưng một vài yếu tố chỉ áp dụng cho một số loại hình dịch vụ cụ thể. Việc đo lường phụ thuộc vào tính chất của dịch vụ và môi trường nghiên cứu. Năm 1985, Parasuraman và các cộng sự đã đưa ra 10 nhân tố quyết định CLDV. Và đến năm 1988, ông rút gọn các nhân tố và đã đẻ xuất cụ thể như sau: Sự tin cậy, Hiệu quả phục vụ, Sự hữu hình, Sự đảm bảo, Sự cảm thông 'Từ các nghiên cứu về CLDV trước đó, Johnston và Silvestro (1990) cũng đề xuất 5 nhân tố khác của CLDV: Sự ân c¿ , Sự chăm sóc, Sự cam kết, Sự hữu ích, Sự hoàn hảo Nam 1990, Gronroos đã đưa ra 6 nhân tố đo lường CLDV như sau: Có tính chuyên nghiệp, Có phong cách phục vụ ân cần, Có tính thuận tiện, Có sự tin cậy, Có sự tín nhiệm , Có khả năng giải quyết khiếu kiện Sureshchandar và cộng sự (2001) đưa ra 5 nhân tố quyết định CLDV bao gồm các yếu tó: dịch vụ cót lõi, Con người, Kỹ thuật, Hữu hình, Cộng đồng.
Các yếu tố đo lường CLDV phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu. Vì vậy, yếu tố trên là cơ sở cho việc xác định cụ thể các thang đo CLDV trong lĩnh vực bán lẻ. Dịch vụ bán lẻ 1. Khái niệm bán lẻ bán lẻ là hoạt động trao đổi trực tiếp giữa người có sản phẩm cần bán và người mong muốn có sản phẩm, ở đây người bán nhận từ người mua tiền hoặc các.
vật phẩm có giá trị theo như đã thỏa thuận. Cũng có khái niệm khác bán lẻ là sự thay đổi hình thái giá trị từ hàng sang tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của người tiêu dùng trực tiếp cuối cùng. Các loại hình bán lẻ “Theo sự phát triển của xã hội, công nghệ mà bán lẻ có rất nhiều loại hình: - Loại hình bán lẻ truyền thống: là lạo hình mà có sự tương tác giữa người bán và người mua, người mua bị hạn chế tiếp xúc trực tiếp với hàng hóa. ~ Bán hàng theo hình thức tự phục vụ: là hình thức người mua tự do tiếp cận hàng hóa, lựa chọn hàng hóa mà không cần sự giúp đỡ của người bán, trả tiền mua hàng ởnơi thu tiền đặt ở lối ra của gian hàng.
10 - Bán hàng theo đơn đặt hàng: Là việc thu nhân đơn hàng qua các phương tiện truyền dẫn hoặc ở những điểm tiếp nhận. Từ đó người bán chuẩn bị hàng hóa theo danh sách có sẵn và giao hàng hóa cho khách hàng tại những địa điểm yêu cầu trong don hang, - Ban hang tận nhà khách hàng: Là người bán hàng mang đến tận nhà khách hàng chào mời, tại đây khách hàng trả tiền hàng và công phục vụ. Khái niệm dịch vụ bán lẻ Dịch vụ bán lẻ là một quá trình bắt đầu từ khi trước bán hàng, trong bán hàng và các hoạt động sau bán hàng. Quá trình này bao gồm nhiều yếu tố khác nhau cấu thành lên.
Các yêu cầu của dịch vụ bán lẻ Các yêu cầu của dịch vụ bán lẻ từ hàng hóa, nguyên vật liệu, dịch vụ khách hàng. - Hàng hóa: Hàng hoá là yếu tố tiên quyết quyết định người mua có muốn mua sản pham hay không. Hàng hoá phải đầy đủ, chính xác về chất lượng, ccéng dụng, bán với giá cả hợp lý. - Nguyên vật liệu, công cụ phục vụ cho trưng bày bán hàng: Đây là yếu tố phụ kèm theo nhưng là các tiện ích giúp hàng hoá đến gần hơn với người tiêu dùng, tạo thuận lợi cho người tiêu dùng có thể tiếp cận sản phẩm một cách dễ dàng.
~ Dịch vụ khách hàng: Dịch vụ khách hàng luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh.