Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục thẩm mỹ giữ vai trò là một trong năm trụ cột cốt lõi nhằm phát triển toàn diện nhân cách, trí tuệ, thể chất và đạo đức cho trẻ ở lứa tuổi mầm non. Trong hệ thống đào tạo giáo viên mầm non trình độ cao đẳng, môn Mĩ thuật là môn học bắt buộc mang tính nghiệp vụ then chốt, trang bị cho giáo sinh năng lực tạo hình, kỹ năng chế tạo đồ dùng đồ chơi và kỹ thuật trang trí cảnh quan sư phạm. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi từ mô hình đào tạo niên chế sang học chế tín chỉ tại Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam từ năm 2015 đến năm 2016, học phần Mĩ thuật bị rút ngắn thời lượng xuống chỉ còn 3 tín chỉ, tương đương với 60 giờ giảng dạy trực tiếp trên lớp. Sự suy giảm thời lượng này tạo ra áp lực lớn đối với việc truyền thụ khối lượng kiến thức nghệ thuật bao gồm 8 phân môn chuyên biệt.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn sâu sắc giữa việc cắt giảm thời lượng giảng đường với đòi hỏi ngày càng cao về chuẩn kỹ năng nghề nghiệp thực hành tạo hình của giáo viên mầm non. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là khảo sát toàn diện thực trạng đào tạo, đánh giá năng lực tạo hình của sinh viên, từ đó xây dựng chương trình chi tiết, thiết kế bộ bài tập bổ trợ kỹ năng và đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2017. Ý nghĩa của đề tài thể hiện qua việc cung cấp giải pháp nâng cao chất lượng tay nghề cho 100% sinh viên tốt nghiệp, đáp ứng trực tiếp nhu cầu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên tại hơn 100 cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh Hà Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn phát triển dựa trên nền tảng lý luận dạy học đại học hiện đại, kết hợp chặt chẽ giữa thuyết kiến tạo và mô hình dạy học lấy người học làm trung tâm. Dạy học hiện đại quan niệm quá trình sư phạm là sự tương tác đa chiều giữa giảng viên, sinh viên và môi trường xã hội, trong đó người thầy đóng vai trò điều khiển, cố vấn và tổ chức nhận thức, còn người học giữ vai trò chủ động chiếm lĩnh tri thức. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng các lý thuyết về tâm lý học phát triển và giáo dục thẩm mỹ lứa tuổi nhằm xác định rõ đặc điểm tri giác thị giác của trẻ em trong độ tuổi từ 3 tháng đến 6 tuổi.

Nghiên cứu làm sáng tỏ 4 khái niệm nòng cốt:

  • Dạy học mĩ thuật: Quá trình truyền đạt và lĩnh hội hệ thống tri thức thị giác, rèn luyện kỹ năng thực hành tạo hình nhằm phục vụ mục tiêu giáo dục thẩm mỹ.
  • Giáo viên mầm non: Nhà giáo mang tính chất đặc thù, tích hợp đồng thời hai chức năng chăm sóc và giáo dục, đòi hỏi các kỹ năng nghệ thuật toàn diện như hát, múa, kể chuyện và tạo hình.
  • Hoạt động tạo hình mầm non: Phương tiện giáo dục trực quan bao gồm các hoạt động vẽ, nặn, xé dán, xếp hình và làm đồ chơi nhằm hình thành nhân cách ban đầu cho trẻ.
  • Kỹ năng tạo hình ứng dụng: Khả năng vận dụng kiến thức thẩm mỹ vào việc trang trí lớp học, chế tạo đồ dùng trực quan và tổ chức các góc hoạt động chủ đề.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp đa dạng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp để đảm bảo tính khách quan khoa học. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 60 sinh viên khóa 18 ngành Giáo dục Mầm non, cùng sự tham gia bổ trợ của sinh viên khóa 19 và các cựu sinh viên đang công tác tại các cơ sở thực hành mầm non như Trường Mầm non Lương Khánh Thiện và Trường Mầm non Lê Hồng Phong thuộc thành phố Phủ Lý. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện chuyên gia, đảm bảo thu thập dữ liệu xác thực từ người học trực tiếp đến cán bộ quản lý chuyên môn.

Hệ thống phương pháp phân tích bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích các văn bản quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đối chiếu 2 giáo trình chuyên ngành chuẩn để xây dựng căn cứ khoa học.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng 2 mẫu phiếu điều tra định lượng kết hợp phỏng vấn sâu định tính.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh chương trình đào tạo giữa Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam và Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm đối chứng trên lớp học thực tế nhằm kiểm chứng tính khả thi của các bài tập bổ trợ. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm tạo nên góc nhìn đa chiều, lượng hóa chính xác các mặt hạn chế trong suốt timeline nghiên cứu từ năm 2015 đến năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng đào tạo môn Mĩ thuật tại nhà trường chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi sau:

  • Nhu cầu thực hành tăng cao: 100% sinh viên được khảo sát mong muốn được gia tăng các hoạt động trải nghiệm thực tế; trong đó có 75% sinh viên yêu cầu cụ thể việc tăng thời lượng cho các nội dung thực hành vẽ tranh, cắt xé dán và làm đồ chơi mầm non.
  • Bất cập về cơ sở vật chất: 78% sinh viên phản ánh điều kiện phòng học chưa thuận lợi, nhà trường hoàn toàn thiếu phòng chức năng chuyên dụng và không gian trưng bày sản phẩm nghệ thuật.
  • Áp lực thời lượng bài học: 80% sinh viên khẳng định thời lượng dành cho một bài thực hành trên lớp quá ngắn, dẫn đến tình trạng kỹ năng thao tác chưa hoàn thiện, tỷ lệ hoàn thành tác phẩm đạt yêu cầu thẩm mỹ cao tại lớp chỉ đạt khoảng 30% đến 40%.
  • Thiếu hụt đội ngũ chuyên sâu: Bộ môn Mĩ thuật chỉ có 3 giảng viên cơ hữu chịu trách nhiệm giảng dạy toàn bộ các phân môn cho nhiều hệ đào tạo, tạo ra sự quá tải trong công tác nghiên cứu chuyên sâu từng chuyên đề.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế trên bắt nguồn từ việc chuyển đổi chương trình đào tạo nhưng chưa đồng bộ hóa phương pháp. Khi so sánh với Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương, nơi chương trình đào tạo có tới 5 học phần tự chọn chuyên sâu bao gồm Kỹ thuật vẽ, Kỹ thuật cắt xé dán, Trang trí mầm non, Kỹ thuật làm đồ chơi và Tổ chức hoạt động tạo hình, thì Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam chỉ triển khai duy nhất 1 học phần tự chọn về làm đồ chơi học liệu. Sự thiếu hụt các môn tự chọn chuyên biệt làm giảm đáng kể cơ hội rèn luyện chuyên sâu cho sinh viên.

Dữ liệu khảo sát khi được tổng hợp qua bảng phân bổ thời lượng và biểu đồ tròn về mức độ hài lòng đã làm rõ sự khập khiễng giữa lý thuyết và thực hành. Cụ thể, sinh viên nắm bắt tốt lý thuyết tỷ lệ người ở trạng thái đứng thẳng nhưng có đến 95% sinh viên gặp khó khăn khi vẽ các tư thế vận động của trẻ nhỏ để minh họa tranh đề tài. Bên cạnh đó, khung kiểm tra đánh giá theo thang điểm 20% thường xuyên, 50% định kỳ và 30% kết thúc học phần trước đây còn mang nặng tính chủ quan, thiếu các tiêu chí định lượng chi tiết cho từng kỹ năng tạo hình.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 giải pháp hành động đồng bộ:

  • Tái cấu trúc chương trình chi tiết môn Mĩ thuật 3 tín chỉ: Ban Giám hiệu cùng Khoa Tiểu học - Mầm non cần ban hành khung phân phối chương trình mới với tổng thời lượng 165 giờ học tập, trong đó chuẩn hóa 12 giờ lý thuyết, 48 giờ thực hành trên lớp và 90 giờ tự học có hướng dẫn, phân bổ hợp lý qua 8 chuyên đề cốt lõi nhằm nâng tỷ lệ sinh viên đạt kỹ năng khá giỏi lên trên 80%.
  • Ứng dụng hệ thống 29 bài tập bổ trợ kỹ năng: Nhóm giảng viên Mĩ thuật cần đưa vào giảng dạy ngay quy trình rèn luyện vẽ 10 đến 15 dáng người que và người thật vận động, kết hợp yêu cầu chép và cách điệu 5 mẫu họa tiết hoa văn dân tộc cổ truyền, giúp sinh viên làm chủ kỹ năng xây dựng bố cục tranh đề tài và trang trí lớp học trong suốt năm học.
  • Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực: Giảng viên trực tiếp áp dụng đồng bộ các kỹ thuật dạy học tích cực như kỹ thuật khăn phủ bàn, sơ đồ tư duy, phương pháp học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong các giờ rèn luyện kỹ thuật cắt dán, nặn và làm đồ chơi học liệu.
  • Hiện đại hóa cơ sở vật chất và quy trình đánh giá: Nhà trường cần đầu tư xây dựng 1 phòng học bộ môn chuyên biệt có giá vẽ, bàn nặn và khu vực trưng bày sản phẩm; đồng thời áp dụng ma trận đánh giá năng lực toàn diện với tỷ lệ 20% chuyên cần và tự học, 50% kiểm tra định kỳ và 30% sản phẩm tổng hợp cuối kỳ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là công trình khoa học có giá trị ứng dụng cao đối với 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý và giảng viên sư phạm mĩ thuật: Nhóm đối tượng này có thể sử dụng khung chương trình 165 giờ và hệ thống giáo án chi tiết 8 chuyên đề làm tài liệu tham khảo trực tiếp để biên soạn đề cương môn học theo hệ thống tín chỉ, nâng cao hiệu suất giảng dạy từ 30% đến 40%.
  • Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Mầm non và Giáo dục Tiểu học: Người học có thể khai thác bộ 29 bài tập thực hành mẫu về tạo hình dáng người, cắt xé dán tranh và thiết kế đồ chơi để tự học, tự rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp trước các đợt thực tập sư phạm.
  • Giáo viên đang công tác tại các trường mầm non: Các giáo viên có thể ứng dụng các kỹ thuật tạo hình đồ chơi từ vật liệu sẵn có và phương pháp trang trí không gian lớp học theo chủ đề để nâng cao chất lượng các tiết dạy hoạt động tạo hình cho trẻ từ 3 đến 6 tuổi.
  • Các nhà nghiên cứu giáo dục nghệ thuật: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và phương pháp luận vững chắc cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về đổi mới phương pháp dạy học nghệ thuật bán chuyên nghiệp tại các trường cao đẳng địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Môn Mĩ thuật tại Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam được phân bổ thời lượng như thế nào?

Học phần Mĩ thuật được thiết kế với khối lượng 3 tín chỉ, quy đổi thành 165 giờ học tập tổng thể. Cấu trúc này bao gồm 12 giờ giảng dạy lý thuyết, 48 giờ thảo luận và luyện tập thực hành trên lớp, cùng với 90 giờ sinh viên tự học và hoàn thiện bài tập có hướng dẫn của giảng viên.

Khảo sát thực tế chỉ ra hạn chế lớn nhất của sinh viên mầm non khi học mĩ thuật là gì?

Khảo sát thực tế cho thấy 75% sinh viên gặp khó khăn lớn về kỹ năng thực hành tạo hình và 80% sinh viên cảm thấy áp lực vì thiếu thời gian thao tác trên lớp. Đa số sinh viên nắm được lý thuyết nhưng lúng túng khi vẽ dáng người chuyển động hoặc tạo hình đồ chơi ứng dụng.

Vì sao luận văn đề xuất phương pháp vẽ dáng người que cho sinh viên mầm non?

Sinh viên mầm non là đối tượng học mĩ thuật không chuyên, khó tiếp thu ngay cấu trúc giải phẫu người phức tạp. Phương pháp vẽ dáng người que thông qua các nét trục đơn giản giúp người học dễ dàng nắm bắt tỷ lệ, thể hiện nhanh 10 đến 15 tư thế vận động khác nhau để đưa vào tranh đề tài.

Cơ chế kiểm tra và đánh giá kết quả học tập môn Mĩ thuật được xác định theo tỷ lệ nào?

Kết quả môn học được đánh giá qua 3 cột điểm chính: 20% điểm đánh giá thường xuyên căn cứ vào chuyên cần và ý thức tự học; 50% điểm đánh giá định kỳ qua các bài kiểm tra thực hành; và 30% điểm thi kết thúc môn học dựa trên bài tập tổng hợp toàn diện.

Giải pháp nào giúp giải quyết tình trạng thiếu thời lượng thực hành mĩ thuật trên lớp?

Luận văn đưa ra giải pháp giao hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài tập bổ trợ về nhà trong quỹ thời gian 90 giờ tự học. Giảng viên yêu cầu sinh viên chuẩn bị trước phác thảo chì và nghiên cứu mẫu, dành trọn vẹn 48 giờ trên giảng đường cho các hoạt động thực hành chuyên sâu và nhận xét sản phẩm.

Kết luận

  • Khảo sát thực trạng cho thấy 100% sinh viên sư phạm mầm non có nhu cầu tăng cường thời lượng trải nghiệm thực hành mĩ thuật ứng dụng.
  • Tái cấu trúc thành công chương trình 3 tín chỉ với 8 chuyên đề cốt lõi, tối ưu hóa 12 giờ lý thuyết, 48 giờ thực hành và 90 giờ tự học.
  • Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống 29 bài tập bổ trợ kỹ năng, giải quyết triệt để điểm yếu về vẽ dáng người và trang trí họa tiết.
  • Đổi mới phương pháp dạy học thông qua việc tích hợp các kỹ thuật tích cực như khăn phủ bàn, sơ đồ tư duy và học tập hợp tác.
  • Chuẩn hóa quy trình kiểm tra đánh giá theo ma trận 3 thành phần 20% - 50% - 30%, gắn liền với việc đề xuất nâng cấp phòng học chức năng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xây dựng mô hình đào tạo mĩ thuật bán chuyên nghiệp mang tính thực tiễn cao, giúp thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết giảng đường và kỹ năng nghề nghiệp tại trường mầm non. Lộ trình triển khai đồng bộ các giải pháp này cần được nhà trường áp dụng ngay trong các khóa đào tạo tiếp theo nhằm nâng cao chất lượng nguồn giáo sinh. Quý bạn đọc, giảng viên và sinh viên hãy tham khảo, áp dụng ngay các giải pháp chi tiết từ công trình nghiên cứu này để tối ưu hóa hiệu quả dạy và học mĩ thuật mầm non.