chương I điều 4, có Quy định hệ thống tiêu chí, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tiêu chuẩn kiểm định chất lượng Trung tâm dạy nghề, các tiêu chí đánh giá bao gồm: Mục tiêu và nhiệm vụ; tổ chức và quản lý; hoạt động dạy và học; giáo viên và cán bộ quản lý; chương trình và giáo trình; thư viện; cơ sở vật chất, thiết bị và đồ dùng dạy học; quản lý tài chính; các dịch vụ cho người học nghề. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề của Đặng Quốc Bảo (2004): Theo Đặng Quốc Bảo, chất lượng đào tạo là kết quả cuối cùng đạt được bởi sự tác động tích cực của các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo. Có thể khái quát quan niệm trên qua mô hình sau: Môi trường Giáo viên Sinh viên Q Phương pháp Nội dung và phương tiện đào tạo đào tạo Đào tạo Cơ sở vật chất, tài chính Đào tạo Hình 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Trong đó: Q: Là chất lượng đào tạo, chịu ảnh hưởng của các nhân tố: Môi trường đào tạo; Đội ngũ giáo viên; Nội dung đào tạo; Cơ sở vật chất, tài chính; Phương pháp và phương tiện đào tạo; Sinh viên.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Phân loại và các hình thức đào tạo nghề Đào tạo nghề có nhiều hình thức phong phú và đa dạng, bao gồm: Đào tạo nghề dài hạn; đào tạo nghề ngắn hạn; đào tạo nghề theo module; đào tạo nghề kèm cặp; đào tạo nghề lưu động. Trong đề tài này chỉ đề cặp đến loại hình ĐTN ngắn hạn: Là loại hình đào tạo có thời hạn dưới một năm, chủ yếu là đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dưới 3 tháng. Ưu điểm của hình thức đào tạo này là có thể tập hợp được lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung, đối tượng thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, hộ cận nghèo, đối tượng khác…với sự hỗ trợ của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương.5 Nông thôn Là những vùng dân cư sinh sống bằng nghề nông nghiệp, dựa vào tiềm năng của môi trường tự nhiên để sinh sống và tạo ra của cải mới trong môi trường tự nhiên đó. Hay nông thôn là nơi nền sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp.
Đây là vùng sản xuất cung ứng nguồn nguyên liệu cho chế biến và tiêu dùng của người dân (Wattpad, 2008).3 Các công trình nghiên cứu thực nghiệm 1.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 1.1 Ở Anh Người dân ở vùng nông thôn ít được đào tạo nên chỉ làm các công việc có tiền công thấp, thấp hơn mức lương trung bình của cả nước. Trong khi đó khuynh hướng về thay đổi thành phần lao động của các ngành cùng với thay đổi kỹ thuật đã dẫn đến yêu cầu kỹ năng lao động cao (Anne and Irene, 2006). Ở thế hệ trước, lao động chân tay không có kỹ năng cần có thể lực, khỏe mạnh và dẻo dai. Các đặc tính này không phải là kỹ năng mà kỹ năng của lao động ngày nay cần có là khả năng giao tiếp, làm việc nhóm, v.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Những thách thức đối với lao động và việc làm nông thôn: (1)là nhu cầu của nhà tuyển dụng về kỹ năng lao động; (2) doanh nghiệp nhỏ vì sự chia sẻ việc làm của lao động tại doanh nghiệp nông thôn lớn hơn thành thị, tuy nhiên, việc làm thường xuyên và tiền lương có liên quan đến sự nâng cao kỹ năng lao động ở doanh nghiệp nhỏ. Sự học tập không chính thức và học từ kinh nghiệm thường được chọn bởi doanh nghiệp nhỏ và (3) Sự cân bằng giữa giáo dục và dạy nghề.2 Ở Trung Quốc Việc đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cần có sự phối hợp giữa các tổ chức liên quan như thương mại, các nhóm ngành nghề, tổ chức phi chính phủ, hiệp hội công nghiệp và thương mại, hội phụ nữ, đoàn thanh niên và nguồn lực đào tạo của cộng đồng. Đào tạo nghề bao gồm kiến thức cơ bản của nghề và sự cạnh tranh cần thiết. Việc đào tạo nghề và nâng cao tay nghề phải theo nhu cầu thị trường lao động và đào tạo kỹ năng dưới nhiều hình thức như tổ chức tập huấn tại nhà kết hợp với tập huấn tại trường, vừa làm vừa học tại công ty kết hợp với 100% thời gian học, tự học nhóm với nhau có sự hỗ trợ của công ty và xã hội (ILO, 2006).3 Ở Đức Theo Wilhelm Wehren (2010) cho rằng, ở Đức có khá nhiều lao động trẻ học nghề nông.
Gia đình của học viên nào có xí nghiệp, trang trại, họ không học nghề tại xí nghiệp của gia đình mà học ở xí nghiệp khác. HV học lý thuyết rất ít, chủ yếu là thực hành. Giáo dục Đức gọi đó là hệ thống đào tạo "kép". HV phải làm bài thi và có nhiều bối cảnh được đưa ra để HV phải tìm hướng giải quyết.
Sau tốt nghiệp, học viên mới được xem là "nhà nông". Sau một năm làm việc thực tế, HV tốt nghiệp hệ trung cấp mới được học tiếp lên hệ cao đẳng. Theo TS Horst Sommer (2013) một trong những nguyên nhân tạo nên tính hấp dẫn trong đào tạo nghề theo mô hình nước Đức là sự tương hợp cao giữa yêu cầu thị trường lao động và bức tranh dạy nghề; sự kết hợp tương đối chặt chẽ giữa lý thuyết, đào tạo trong trường và đào tạo thực hành tại xí nghiệp. Và theo TS Horst Sommer (2013) cũng nhấn mạnh “Ở Đức, tiêu chuẩn nghề nghiệp do các khối đại diện doanh nghiệp, nghề TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 nghiệp quy định.
Thời gian qua chúng ta đã mất nhiều thời gian để chỉ nghỉ rằng cần chỉ tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao trang thiết bị dạy nghề thì sẽ cải thiện được bức tranh của các trường nghề mà quên rằng còn cần nhiều yếu tố khác, như thay chất đội ngũ giáo viên, tăng cường thời gian thực hành cho người học tại các doanh nghiệp, thực hành ở các vị trí sẽ làm việc trong tương lai…” Tóm lại, Quá trình ĐTN cho LĐNT cần có sự liên kết chặt chẽ giữa cơ sở DN và doanh nghiệp tuyển dụng lao động, cơ sở DN và doanh nghiệp cần xây dựng chương trình DN cụ thể. Ngoài việc dạy lý thuyết ở trường còn kết hợp cho HV thực hành tại xưởng, từ đó giúp HV làm quen với môi trường việc làm sau khi kết thúc khóa học.2 Công trình nghiên cứu trong nước Đến thời điểm 31/12/2014, dân số cả nước là 90,7 triệu người. Số người từ 15 tuổi trở lên 70,06 triệu (chiếm 78% tổng dân số), trong đó có 54,4 triệu người thuộc lực lượng lao động. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế 53,4 triệu người, tăng 1,56% so với năm 2013, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 46,6%; khu vực công nghiệp và xây dựng 21,4%; khu vực dịch vụ 32%.
Mặc dù tiến trình đô thị hóa ở Việt Nam đã và đang diễn ra nhưng lao động thôn vẫn còn đông đảo, chiếm gần 70% lực lượng lao động. Đặc biệt, vẫn còn khác biệt về mức độ tham gia hoạt động kinh tế giữa khu vực thành thị và nông thôn, khoảng 11,2 điểm phần trăm (70,5% và 81,7%). Bên cạnh đó, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nữ là 73,6%, thấp hơn 9 điểm phần trăm so với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nam (82,6%). Trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật (CMKT) của lao động nông thôn luôn thấp hơn so với mức chung của cả nước.
Có đến trên 83% lao động nông thôn chưa qua trường lớp đào tạo CMKT nào và khoảng 18,9% lao động nông thôn chưa tốt nghiệp tiểu học đang làm việc, nên khả năng chuyển đổi nghề nghiệp, tìm việc hoặc tự tạo việc làm tốt hơn là rất khó. Đồng thời với thói quen làm nghề nông nghiệp truyền thống và tình trạng ruộng đất manh mún như hiện nay đã làm cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 người nông dân bị hạn chế về tính chủ động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, cũng như khả năng tiếp cận thị trường. Có nhiều bất cập trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Đào tạo nghề chưa đáp ứng so với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, nên nhiều học viên sau khi học xong không tìm được việc làm, trong khi doanh nghiệp thì luôn có nhu cầu tuyển dụng lao động (Loan Phương, 2008). Do chất lượng đào tạo thấp, ngành nghề đào tạo ít nên không phù hợp với yêu cầu sản xuất và chưa đáp ứng cho nhu cầu phát triển.
Thực tế ở các trung tâm dạy nghề đội ngũ giáo viên đều thiếu và yếu về chất lượng cũng như kỹ năng truyền đạt kiến thức cho người học; cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc phục vụ hoạt động dạy nghề thiếu và lạc hậu (Song Nhi, 2007). Lao động nông thôn có trình độ văn hóa thấp, nên việc tiếp thu những kỹ thuật tiên tiến và sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại gặp khó khăn. Các giáo trình còn mang nặng tính hình thức, tính khoa học. Vấn đề kỷ luật lao động, tác phong lao động công nghiệp chưa được quan tâm trong dạy nghề.
Vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần phải được xã hội hoá và có sự tham gia đầy đủ của các cấp chính quyền, doanh nghiệp, có sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế (Song Nhi, 2007). Chất lượng nguồn nhân lực ở ĐBSCL thấp, thấp hơn mức trung bình cả nước và các vùng trong nước. Nguồn nhân lực phục vụ cho các doanh nghiệp hiện nay ở ĐBSCL chủ yếu là nguồn lao động phổ thông, so với nhu cầu thị trường lao động thì còn thiếu và yếu; để đáp ứng nhu cầu lao động ngày càng cao về chất lượng của các doanh nghiệp thì cần có chiến lược phát triển nguồn lực trong đó ưu tiên phát triển trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề và cơ cấu lao động hợp lý (Võ Hùng Dũng, 2003). Yếu tố quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở ĐBSCL là chất lượng lao động, tuyển dụng và sử dụng lao động hợp lý.
Nguyễn Văn Hùng (2005), sự mất cân đối về tỉ lệ lao động một phần là do nhận thức của đa số người dân luôn muốn học làm thầy mà ít ai chịu học làm thợ. Trong khi đó tỷ lệ cử nhân, kỹ sư ra trường thất nghiệp ngày càng nhiều.