Chương 1: Cơ sở khoa học về chất lượng công chức của chính quyền đô thị. Chương 2: Thực trạng chất lượng công chức của chính quyền đô thị tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công chức của chính quyền đô thị tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CỦA CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ 1.
Công chức chính quyền đô thị 1. Công chức Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau giữa các quốc gia. Việc xác định ai là công chức thường do các yếu tố sau quyết định: - Hệ thống thể chế chính trị. - Tổ chức bộ máy nhà nước.
- Sự phát triển kinh tế - xã hội. - Tính truyền thống và các yếu tố văn hóa, lịch sử. Phạm vi công chức ở mỗi quốc gia khác nhau thường là khác nhau. Ví dụ, có những quốc gia coi công chức là những người làm việc trong bộ máy nhà nước (bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp hay các lực lượng vũ trang, công an).
Trong khi đó có những nước lại chỉ giới hạn công chức là những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước hay hẹp hơn nữa là trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật cán bộ, công chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản lý, chúng ta chưa xác định được rõ ràng cán bộ; công chức. Trong hệ thống pháp luật của nước ta, kể từ Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) cho đến các luật khác (Ví dụ: Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Luật Bình đẳng giới; Luật Luật sư; Luật Chứng khoán; Luật Bảo hiểm xã hội; Luật Trợ giúp pháp lý; Luật Công nghệ thông tin; Luật Đấu thầu; Luật Công an nhân dân; Luật Nhà ở; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Giáo dục;.) đều có những điều, khoản quy định sử dụng nhiều lần các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, nhưng chưa có một văn bản luật nào giải thích các thuật ngữ này. 10 Và tại khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập., trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
[18] Và đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức 2019, khái niệm công chức đã có sự sửa đổi tại khoản 2, Điều 4, “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.[21] Công chức có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích của phân loại. Ở Việt Nam có một số cách phân loại cơ bản sau: - Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân thành loại A, loại B, loại C và loại D, cụ thể như sau: + Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương. + Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương. 11 + Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương.
+ Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên. - Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau: + Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. + Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. - Phân loại theo ngành, lĩnh vực: Ngoài ra, công chức còn có thể được phân loại theo trình độ đào tạo (sau đại học, đại học, trung học, .) hoặc theo hệ thống cơ cấu tổ chức, gồm: - Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức ở trung ương.
- Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức cấp tỉnh. - Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức cấp huyện. - Công chức làm việc ở cơ quan, tổ chức cấp xã. Trong mỗi một ngành chuyên môn có một hoặc một số ngạch từ cao đến thấp, thể hiện phẩm chất, trình độ và chuyên môn nghiệp vụ, những hiểu biết cần phải có của công chức; mỗi một ngạch có nhiều mức lương khác nhau, từ mức khởi điểm (bậc 1) trở lên.
Theo quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, việc nâng từ mức lương thấp lên mức lương cao hơn trong ngạch được thực hiện gắn với thâm niên công tác, trừ trường hợp được nâng lương trước thời hạn do có thành tích, cống hiến trong công tác. Việc thực hiện nâng lương được tiến hành theo quy trình, thủ tục và phân cấp theo quy định của pháp luật. Việc nâng từ ngạch thấp lên ngạch cao hơn liền kề phải qua kỳ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh. Chính quyền đô thị Trong khoa học pháp lý, quản lý hành chính nhà nước và trong thực tế đời sống xã hội, thuật ngữ chính quyền địa phương; chính quyền nông thôn và 12 chính quyền đô thị được sử dụng phổ biến.
Tuy nhiên, quy phạm pháp luật thực định lại chưa định rõ ràng những khái niệm này. Trên cơ sở phân định từ các loại chính quyền địa phương, trong đó hai khu vực hành chính – lãnh thổ đặc trưng khác biệt về đặc điểm kết cấu kinh tế- xã hội, tính chất và tập quán sinh hoạt dân cư gọi là nông thôn và thành thị. Tương ứng với hai khu vực này, với những đơn vị hành chính – lãnh thổ nhất định thì nhà nước thiết lập bộ máy quản lý của chính quyền phù hợp trên những đơn vị đó, từ đó hình thành khái niệm chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị. Theo khoản 2,3, điều 4 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, chính quyền địa phương ở nông thôn thiết lập ở địa bàn tỉnh, huyện, xã và chính quyền địa phương tương ứng ở đô thị là thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn.
Tuy nhiên, theo cách phân loại như hiện nay vẫn còn mang tính chất rất tương đối, còn có sự đan xen giữa đô thị và nông thôn. Vì vậy, có thể hiểu CQĐT là thiết chế bộ máy chính quyền nhà nước địa phương ở đô thị nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn hành chính – lãnh thổ đô thị; đảm bảo quyền cơ bản của công dân và cung cấp các dịch vụ công ở đô thị. Chính quyền đô thị có những đặc điểm sau: - CQĐT là một thiết chế quyền lực nhà nước ở đơn vị hành chính lãnh thổ xã hội đô thị. Đô thị có đặc thù kết cấu văn hóa đô thị, sự tuân thủ pháp luật và tôn trọng quyền con người; phát huy dân chủ đòi hỏi cao hơn, diễn ra ở mức độ phức tạp hơn.
Vì vậy, tổ chức CQĐT phải xác định mục tiêu cho bộ máy, tinh gọn, hoạt động phục vụ tốt nhất cho doanh nghiệp, các dịch vụ công và dịch vụ công ích ngoài nhiệm vụ chính là duy trị, bảo đảm ổn định xã hội. Cơ chế thực hiện quyền của mình với chính quyền như hoạt động xây dựng chính quyền giám sát hoạt động chính quyền, nhu cầu sử dụng và mua các 13 dịch vụ công cũng có đặc điểm khác cơ bản so với tập quán khu vực dân cư nông thôn có đặc trưng làng, xã. - Người dân của chính quyền đô thị luôn có ý thức pháp luật cao hơn, quen với chấp hành quy tắc công cộng, dễ hòa nhập và tiêu dùng dịch vụ. Hạ tầng kỹ thuật đô thị là thông suốt, khó chấp nhận phân chia hoặc sự phân chia không gian cơ học vì như vậy sẽ dẫn đến sự bất tiện và lam giảm hiệu quả khai thác.
Vì vậy, tổ chức CQĐT phải liên thông, cơ cấu hợp lý, thay đổi năng động và phát triển của xã hội đô thị. - CQĐT là trụ cột chính trong hoạt động quản lý đô thị. Môi trường đô thị luôn có điều kiện tự nhiên và xã hội tốt để phát triển các dịch vụ phục vụ con người, phát triển kinh tế cũng như các sự kiện chính trị, ngoại giao. Các dịch vụ phổ biến ở đô thị như: giáo dục, y tế, giao thông, việc làm, nhà ở, văn hóa, thông tin, vệ sinh môi trường…rất đa dạng.
Cùng với những nhu cầu dịch vụ để cư dân đô thị khai tác và hưởng thụ, những vấn đề hệ quả mang tính tiêu cực cũng phát triển đồng thời như hai mặt của vấn đề xã hội đô thị. CQĐT là tổ chức duy nhất, đặc thù nhất để có đủ nguồn lực tập trung, hài hòa các yếu tố xã hội thông qua việc quản lý và cung cấp các dịch vụ xã hội bằng biện pháp quản lý nhà nước, đặc biệt là các dịch vụ hành chính công - CQĐT gắn liền với phát triển hiện đại. Chỉ có CQĐT mới hội đủ điều kiện và năng lực nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân đô thị. CQĐT còn được coi như là một tổ chức kinh tế, tạo ngân sách cho chính quyền trung ương tiếp tục đầu tư phát triển cho những đơn vị hành chính khác của quốc gia.
Đồng thời, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, CQĐT còn có vai trò điểm đầu mới trong hội nhập quốc tế.