CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1.1 Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Theo mục 2- điều 3 – quyết định 1627/2001/QD-NHNN về quy chế cho vay các Tổ chức Tín dụng với khách hàng, có định nghĩa rằng: “ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Ngân hàng có 2 hoạt động chính là huy động tiền gửi và cho vay. Trong đó cho vay chính là nguồn lợi tạo ra thu nhập, tạo ra giá trị thặng dư cho ngân hàng. Ngân hàng là trung gian tài chính của nền kinh tế: huy động vốn từ nền kinh tế ( bên dư thừa vốn) rồi cung ứng lại nền kinh tế ( cho vay bên thiếu vốn) tạo thành một vòng dịch chuyển dòng tiền trong nền kinh tế.
Khách hàng vay vốn của ngân hàng có thể là các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế và doanh nghiệp, trong đó cá nhân và hộ gia đình là bộ phận ngày càng đóng góp vai trò quan trọng trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại. Với dân số hơn 95 triệu dân và đang trong thời kỳ dân số vàng, các cá nhân và hộ gia đình (hay gọi tắt là khách hàng cá nhân) tại Việt Nam đang tạo ra một thị trường kinh doanh rộng mở và rất nhiều tiềm năng phát triển. Khách hàng cá nhân vay của NHTMCP để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ cho mục đích đầu tư, sản xuất kinh doanh của mình.2 Đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân gồm: Khách hàng vay.
Là một người hay hộ gia đình: Những người buôn bán nhỏ , nông dân, hộ thủ công nghiệp, thợ may, cơ khí, sinh viên, các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ…hoặc là đại diện hộ gia đình thay mặt hộ gia đình ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng đảm 9 bảo tiền vay và cam kết cùng trả nợ cho ngân hàng. Họ có nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng như khi họ cần tiền để mua nhà, mua ô tô hay khi họ muốn tiền của họ giữ an toàn mà vẫn có lãi. Mặc dù thị trường khách hàng cá nhân nhỏ nhưng quy mô lại tương đối lớn về số lượng đối với thị trường khách hàng doanh nghiệp. Khách hàng cá nhân có nhu cầu rất đa dạng và phức tạp.
có sự khác nhau về tuổi tác thu nhập, giới tính, địa vị xã hội…. cũng có nhu cầu riêng cụ thể như sau: + Nhóm có thu nhập thấp: Nhu cầu tín dụng của họ thường hạn chế bởi họ rất khó khăn trong chi tiêu. + Nhóm có thu nhập trung bình: Nhu cầu tín dụng của nhóm người này có xu hướng ngày càng tăng. Mặc dù những người này có thể có những nguồn tài chính thực sự song họ vẫn muốn để mua sắm hàng, chi tiêu cho sản phẩm có thể tốt hơn.
+ Nhóm có thu nhập cao: Đối với nhóm người này tín dụng tạo điều kiện cho họ có thêm các khoản phụ trợ kinh doanh và trợ giúp vào khả năng thanh toán, đặc biệt là khi tiền của họ bị trói chặt vào những khoản đầu tư dài hạn. Dù việc vay mượn của họ nhằm mục đích tín dụng chỉ thể hiện là một tỉ trọng nhỏ trong tổng số của cải mà họ tạo ra nhưng đối tượng này được các ngân hàng quan tâm, bởi họ có thể mang lại nhiều nguồn lợi cho ngân hàng trong tương lai. Mục đích vay. Cho vay khách hàng cá nhân chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ hàng hóa có chất lượng tốt để cải thiện cuộc sống.
Đây là những nhu cầu mang tính tự nhiên và thiết yếu trong đời sống của mỗi cá nhân, gia đình. Cho vay khách hàng cá nhân cũng phục vụ nhu cầu sản xuất những khoản vay này thường là những khoản vay nhỏ chủ yếu là mở rộng sản xuất hộ gia đình. Nguồn trả nợ. Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ nguồn thu nhập mà không nhất thiết phải từ kết quả sử dụng những khoản vay đó.
Vì vậy, nguồn trả nợ của người đi vay có thể có biến động lớn, nó phụ thuộc vào quá trình làm việc của từng khách hàng. Do đó khi khách hàng cá nhân vay phải cân nhắc hoàn cảnh, lương bổng của 10 người vay. Nghề nghiệp của người vay phải được quan tâm thích đáng. Ở nước ta nhìn chung viên chức nhà nước như: Bác sĩ , bộ đội….
được coi là những người có thu nhập ổn định và ít rủi ro hơn đối với người làm việc vặt hay nhân viên bán hàng và công nhân. Quy mô khoản vay. Các khoản vay đối với khách hàng cá nhân thường là những khoản vay có giá trị nhỏ, số lượng khoản vay là rất lớn do đó có tính nhạy cảm của nhóm khách hàng này là rất cao, đòi hỏi ngân hàng phải có những chiến lược marketing riêng biệt, phù hợp, mang lại sự gần gũi, tin tưởng và yên tâm cho khách hàng đến ngân hàng xin vay vốn. Quy mô khoản vay thường nhỏ, dựa vào tư cách người vay, tài sản thế chấp.
Cho vay từng bước, bắt đầu từ bước nhỏ rồi tăng dần quy mô cho vay. Thời hạn khoản vay. Thời hạn khoản vay chủ yếu là ngắn hạn, một phần là trung hạn và một phần nhỏ là dài hạn. Nguyên nhân do: + Các khoản vay này chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân , một phần phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho vay của cho vay cá nhân, một phần phục vụ sản xuất kinh doanh nhưng thường là với quy mô nhỏ.
+ Đây là hình thức cho vay với mức lãi suất cao nhất trong ngân hàng thương mại. + Các cá nhân đến xin vay ngân hàng các khoản để đáp ứng tức thời nhu cầu của họ mà ngay tức thời họ chưa có khả năng chi trả nhưng họ hoàn toàn đủ khả năng ấy trong một thời gian ngắn trung hạn.3 Các hình thức cho vay khách hàng cá nhân Có nhiều cách phân loại các loại hình cho vay tùy theo các tiêu thức phân loại. * Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng khoản vay Trong cuốn Quản trị Ngân hàng thương mại của Piter S.Rose, chương 16: Hoạt động cho vay của Ngân hàng chính sách và quy trình, phân loại các loại hình cho vay căn cứ vào mục đích sử dụng thành các loại sau: - Cho vay kinh doanh bất động sản: Bao gồm các khoản cho vay xây dựng 11 ngắn hạn và giải phóng mặt bằng cũng như các khoản cho vay dài hạn tài trợ cho việc mua đất canh tác, nhà, trung tâm thương mại và mua các taig sản nước ngoài. Đối với loại hình cho vay này, Ngân hàng được bảo đảm bằng tài sản thực: đất đai, tòa nhà, các công trình khác… - Cho vay đối với các tổ chức tài chính: Bao gồm các khoản tín dụng dành cho ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
- Cho vay nông nghiệp: Nhằm hỗ trợ cho nông dân trong hoạt động gieo trồng, thu hoạch bảo quản sản phẩm - Cho vay công nghiệp và thương mại: Giúp doanh nghiệp trang trải các chi phí như mua hàng nhập kho, trả thuế, trả lương cho cán bộ công nhân viên… - Cho vay đối với cá nhân: Giúp tài trợ cho việc mua ôtô, nhà ở, trang thiết bị gia đình, vật liệu xây dựng để sửa chữa, hiện đại hóa nhà cửa hay trang trải cho các khoản viện phí và các chi phí cá nhân khác. - Các khoản cho vay khác: Gồm các khoản cho vay không được xếp vào các loại cho vay trên và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán. - Tài trợ thuê mua: Ngân hàng mua thiết bị máy móc hay phương tiện và cho khách hàng thuê. * Nếu căn cứ vào phương thức cho vay Theo điều 16 – quyết định 1627/2001/QD-NHNN về quy chế cho vay các Tổ chức Tín dụng với khách hàng của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì Ngân hàng thương mại có các phương thức cho vay sau: - Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của Ngân hàng đối với các khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình Ngân hàng phương án sử dụng vốn vay của mình. Đối với từng kì hạn trong hợp đồng, Ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng vốn vay, Ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, Ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Đây là nghiệp vụ tương đối đơn giản, Ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt.
12 - Cho vay theo hạn mức tín dụng: đây là phương thức mà Ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng ( có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì ) trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với Ngân hàng thì hình thức cho vay này có ưu thế là khi khách hàng có thu nhập, Ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng, tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn cụ thể nên Ngân hàng khó có thể kiểm soát được hiệu quả sử dụng từng lần vay. - Cho vay theo sự án đầu tư: Ngân hàng thương mại cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống.
- Cho vay hợp vốn: Ngân hàng thương mại cùng với các tổ chức tín dụng khác cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác… - Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng, theo đó Ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Trả góp thường áp dụng cho hình thức vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền.