Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ QUẢN LÝ Ở DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, vị trí và vai trò của cán bộ quản lý ở các doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm về cán bộ quản lý ở các doanh nghiệp nhà nước - Khái niệm doanh nghiệp nhà nước và đặc trưng doanh nghiệp nhà nước Trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở Việt Nam từng bước được điều chỉnh và hoàn thiện. Điều này thể hiện rõ trong các văn bản pháp quy của nhà nước.
Theo định nghĩa tại khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” [43]. Với quy định này, có thể thấy hiện tại doanh nghiệp nhà nước chỉ có thể tồn tại dưới hình thức đó là công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên do Nhà nước (với tư cách là tổ chức) làm chủ sở hữu. Việc tổ chức quản lý doanh nghiệp Nhà nước loại hình này được thực hiện theo các quy định của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên và các quy định khác có liên quan của Luật Doanh nghiệp 2014. Theo định nghĩa tại khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết” [44].
Với quy định này, có thể thấy hiện tại doanh nghiệp nhà nước tồn tại dưới hình thức đó là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Việc tổ chức quản lý doanh nghiệp Nhà nước loại hình này được thực hiện theo các quy định của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và các quy định khác có liên quan của Luật Doanh nghiệp 2020. Như vậy, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước trên đây đã không chỉ chú trọng đến hình thức sở hữu của loại hình doanh nghiệp có tính chất công hữu này, mà còn nhấn mạnh đến cả chức năng đặc thù của chúng, đó là doanh nghiệp nhà 15 nước không chỉ thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh thông thường giống như tất cả các doanh nghiệp khác mà còn là công cụ để Chính phủ sử dụng nhằm đặt mục tiêu kinh tế - xã hội mà một doanh nghiệp hoạt động đơn thuần vì mục tiêu lợi nhuận không thể thực hiện được. Riêng về khía cạnh sở hữu, quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam trong Luật Doanh nghiệp 2020 cũng có những mặt nới lỏng và năng động hơn.
Bên cạnh những doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, còn có những doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Trong hệ thống các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước đã chủ trương thành lập một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Mặt khác, chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và đa dạng hóa sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước (mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn) cũng được chú trọng. Quan điểm trên đây hoàn toàn phù hợp với các nhìn nhận của Đảng và Nhà nước về vai trò của doanh nghiệp nhà nước thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
Trong đó, đặt mục tiêu bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp để doanh nghiệp nhà nước giữ vững vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội [23]. Như vậy theo pháp luật của Việt Nam, DNNN có một số đặc trưng sau: Một là, Nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp thông qua đầu tư vốn vào doanh nghiệp. Tỷ trọng đầu tư Nhà nước có thể khác nhau trong các doanh nghiệp khác nhau, nhưng điểm chung là đủ để cho phép Nhà nước giữ quyền chi phối đối với hoạt động của doanh nghiệp. Hai là, DNNN hoạt động tự chủ theo chế độ phân cấp và ủy quyền quản lý của Nhà nước, trong đó Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong khuôn khổ số vốn đầu tư vào doanh nghiệp.
16 Ba là, về mặt pháp lý DNNN hoạt động trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác. Bốn là, mặc dù hoạt động kinh doanh tự chủ nhưng DNNN đương nhiên phải thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước giao. - Khái niệm cán bộ: Theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Đoàn thể, quân đội được hưởng lương. Trong Từ điển tiếng Việt năm 1994 [54], khái niệm cán bộ được định nghĩa là: Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước (như cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị).
Người làm công tác có chức vụ trong cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, mỗi đảng viên của Đảng đều có thể xem là cán bộ. Người vẫn thường dùng khái niệm: “cán bộ, đảng viên” để chỉ ra cán bộ nói chung, khi họ không nắm giữ chức vụ gì, nhưng vẫn có vai trò lãnh đạo vì họ là một thành viên của Đảng, mà Đảng có trách nhiệm lãnh đạo chính quyền và toàn thể nhân dân thực hiện sức mạnh của mình. Người coi vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề then chốt quyết định đến sự thành bại của cách mạng.
Hồ Chí Minh khẳng định: Cán bộ là gốc của công việc và “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [38]. Như vậy Hồ Chí Minh cho ta thấy một khái niệm cán bộ theo nghĩa rộng.
Với nghĩa đó, người cán bộ thể hiện trong bốn mối quan hệ. Một, đối với đường lối chính sách; hai, đối với tổ chức (cơ quan lãnh đạo, cơ quan quản lý); ba, đối với công việc; bốn, đối với dân chúng. Người cán bộ nào cũng bị ràng buộc bởi bốn mối quan hệ đó và phải hoàn thành được nhiệm vụ do các mối quan hệ đó đòi 17 hỏi. Bốn mối quan hệ này cho tới nay vẫn đòi hỏi mọi cán bộ, công chức phải thực hiện tốt.
- Khái niệm quản lý: Trong Từ điển tiếng Việt năm 1994 [61], thuật ngữ “quản lý” được định nghĩa là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu đã đề ra”. Như vậy có thể hiểu, quản lý là tổ chức thực hiện, xử lý những vấn đề cụ thể, thực tế. Quản lý như một quá trình chấp nhận hiện trạng, tập trung vào kiểm soát nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ đúng quy định. Công việc thường thấy của người quản lý là lập kế hoạch, tổ chức nhân sự và kiểm soát quá trình thực hiện.
Khái niệm quản lý ở đây khác với khái niệm “lãnh đạo”, “lãnh đạo” là đề ra chủ trương, đường lối, sách lược và tổ chức động viên thực hiện. Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra. Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Quản lý là khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hóa và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt.
Quản lý là khoa học phân loại kiến thức, giải thích các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý, dự báo kết quả. Quản lý là nghệ thuật bởi lẽ nó là hoạt động đặc biệt, trong đó quan hệ quan trọng nhất là con người, đòi hỏi phải vận dụng hết sức khéo léo, linh hoạt những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết. Nghệ thuật đó thể hiện ở thái độ cư xử có văn hoá, khôn ngoan và tế nhị, trong việc vận dụng các nguyên tắc chung vào từng con người cụ thể. Nói cho cùng, nghệ thuật quản lý con người cũng là dựa trên các quy luật tâm lý học.
- Khái niệm cán bộ quản lý: Cán bộ quản lý là những người thực hiện các chức năng quản lý và nhiệm vụ quản lý nhất định trong bộ máy nhằm đảm bảo cho tổ chức đạt được những mục đích của mình với kết quả và hiệu quả cao. Cũng có thể hiểu cán bộ quản lý là người có thẩm quyền ra quyết định dù được phân quyền hay ủy quyền. 18 Một cán bộ quản lý được xác định bởi ba yếu tố sau: (1) Có vị thế trong tổ chức với những quyền hạn nhất định trong quá trình ra quyết định quản lý; (2) Có chức năng thực hiện những nhiệm vụ quản lý nhất định trong tổ chức; (3) Có nghiệp vụ để đáp ứng những đòi hỏi nhất định của công việc. - Khái niệm cán bộ quản lý trong doanh nghiệp: Với khái niệm cán bộ quản lý nêu trên, có thể hiểu cán bộ quản lý trong doanh nghiệp là những người thực hiện các chức năng quản lý và nhiệm vụ quản lý nhất định trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp đạt được những mục đích của mình với kết quả và hiệu quả cao.
Như đã phân tích ở trên, doanh nghiệp nhà nước hoạt động không chỉ vì mục tiêu lợi nhuận đơn thuần như các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) mà còn vì mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. Nói cách khác, cán bộ quản lý trong các DNNN ngoài việc quản lý tốt nhằm mang lại hiệu quả trong việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì còn cần thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ khái niệm “cán bộ quản lý trong doanh nghiệp” và “người quản lý doanh nghiệp”.