Tổng quan nghiên cứu

Lưới điện truyền tải đóng vai trò huyết mạch trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo số liệu thống kê của Công ty Truyền tải điện 1, đơn vị hiện đang quản lý vận hành 2.977 km đường dây 500kV và 7.463 km đường dây 220kV trải rộng trên địa bàn 28 tỉnh thành miền Bắc. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2020, toàn hệ thống đã ghi nhận 16 sự cố bao gồm cả sự cố thoáng qua và sự cố kéo dài. Thực tế vận hành cho thấy, việc xác định chính xác điểm sự cố trên các tuyến đường dây đi qua địa hình đồi núi hiểm trở gặp rất nhiều thách thức, tiêu tốn lớn nguồn nhân lực và làm kéo dài thời gian mất điện.

Vấn đề cốt lõi nảy sinh từ việc các rơle bảo vệ khoảng cách truyền thống chỉ thu thập tín hiệu đo lường từ một phía của đường dây. Thuật toán đo lường một đầu thường xuất hiện sai số lớn, trong nhiều trường hợp sai lệch vị trí có thể lên tới hàng chục kilômét do chịu tác động bởi điện trở hồ quang, dòng tải trước sự cố và hiện tượng hỗ cảm giữa các đường dây song song.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng làm việc của chức năng bảo vệ khoảng cách và thuật toán định vị sự cố bằng rơle kỹ thuật số trên hệ thống lưới điện truyền tải. Đề tài tập trung khảo sát tuyến đường dây 220kV Ninh Bình – Nho Quan với tổng chiều dài 30,77 km gồm 92 vị trí cột. Việc ứng dụng giải pháp nâng cao độ chính xác định vị sự cố giúp giảm sai số xuống dưới mức 1%, rút ngắn 20% đến 30% thời gian gián đoạn cung ứng điện, đồng thời tối ưu hóa chi phí sửa chữa trên toàn bộ 1.168 km đường dây 220kV dự kiến đưa vào vận hành theo quy hoạch lưới điện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết thành phần đối xứng kết hợp với lý thuyết phân tích quá độ điện từ trong hệ thống điện. Nguyên lý bảo vệ khoảng cách dựa trên việc đo lường điện áp và dòng điện tại điểm đặt thiết bị để tính toán tổng trở vòng lặp ngắn mạch $Z = U/I$. Rơle giám sát 6 mạch vòng cơ bản tương ứng với các dạng sự cố pha – pha (A-B, B-C, C-A) và pha – đất (A-E, B-E, C-E).

Trong tính toán sự cố chạm đất, hệ số bù dòng thứ tự không $K_N = (Z_0 - Z_1) / (3Z_1)$ đóng vai trò then chốt để loại bỏ sai số tổng trở. Bên cạnh đó, mô hình điện trở hồ quang $R_{arc} = 8750 \cdot L_{arc} / I^{1,4}$ được áp dụng nhằm đánh giá sự phi tuyến của hồ quang điện theo chiều dài và dòng ngắn mạch. Phân tích lý thuyết chỉ ra rằng tổng trở tương hỗ thứ tự thuận và nghịch của các đường dây song song chỉ chiếm khoảng 5% đến 7%, trong khi hỗ cảm thứ tự không chiếm từ 50% đến 70%, là nguồn gốc chính gây sai lệch vùng tác động của rơle.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực tế thu thập từ trạm biến áp 220kV Ninh Bình (công suất 500 MVA) và trạm 500kV Nho Quan (công suất 1750 MVA), kết hợp các bản ghi sự cố từ rơle Siemens 7SA611, SEL-311L và ABB REL511. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 5 điểm ngắn mạch điển hình được bố trí có chủ đích dọc theo 4 phân đoạn của tuyến đường dây 220kV Ninh Bình – Nho Quan (gồm đoạn 8,4 km dây 2xACSR 300/39 và đoạn 23,6 km dây GZTACSR 310).

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích tại các điểm nút 8,4 km, 16,18 km, 23,96 km và 31,74 km được lựa chọn nhằm bao quát đầy đủ sự thay đổi cấu trúc dây dẫn và điểm chuyển tiếp địa hình. Quá trình phân tích áp dụng tiêu chuẩn quốc tế IEC 60909 thông qua phần mềm ETAP để tính toán dòng ngắn mạch xác lập, kết hợp công cụ ATPDraw để mô phỏng quá độ điện từ với mô hình lưới có khả năng mở rộng lên tới 6.000 nút và 10.000 nhánh. Lý do kết hợp hai phần mềm này là nhằm đối chứng toàn diện giữa chế độ xác lập chuẩn hóa và phản ứng quá độ thời gian thực của sóng dòng điện, điện áp khi xảy ra ngắn mạch trong giai đoạn 2018–2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả kiểm tra thực tế bản ghi sự cố ngày 09/05/2020 tại đường dây 220kV Ninh Bình – Nho Quan ghi nhận dòng ngắn mạch pha C chạm đất đạt 10,05 kA (trong khi pha A là 0,29 kA và pha B là 0,57 kA). Rơle khoảng cách 7SA611 đo được khoảng cách sự cố là 5,8 km (tương đương 18,1% chiều dài tuyến), trong khi vị trí phóng điện thực tế tại cột số 74 cách trạm 6,31 km, tạo ra mức sai lệch 0,51 km (tương đương sai số 8,08% so với khoảng cách đo).

Thứ hai, việc so sánh thông số tổng trở đường dây giữa tính toán lý thuyết theo tiêu chuẩn IEC, phân tích trên ETAP và số liệu đo thực địa cho thấy sự chênh lệch đáng kể. Tổng trở thứ tự không tính toán đạt $Z_0 = 29,1,\Omega$ và tổng trở mạch vòng chạm đất đạt $Z = 17,97,\Omega$. Sự biến động của điện trở suất đất ở mức 1000 $\Omega\cdot\text{m}$ khiến thông số điện trở tính toán trong phiếu chỉnh định lệch hơn 15% so với đo đạc thực tế.

Thứ ba, thuật toán định vị sự cố dựa trên tín hiệu đo lường đồng bộ hai đầu sử dụng thành phần thứ tự thuận đã triệt tiêu hoàn toàn ảnh hưởng của điện trở hồ quang $R_{arc} = 0,28,\Omega$ và không phụ thuộc vào hệ số phân bố dòng điện $K_i$. Khi mô phỏng ngắn mạch 3 pha và 1 pha trên ATPDraw tại các vị trí cách trạm từ 8,4 km đến 23,6 km, sai số vị trí điểm sự cố giảm từ 8% xuống dưới 0,5%.

Thảo luận kết quả

Sự sai lệch trong phép đo của rơle một đầu bắt nguồn từ việc dòng điện tại hai đầu đường dây có góc lệch pha, khiến thành phần điện trở sự cố $R_F$ bị biến dạng thành một đại lượng tổng trở phức có chứa thành phần điện kháng ảo. Hiện tượng này làm thay đổi giá trị phản kháng mà rơle đo được, dẫn đến việc tính toán khoảng cách bị sai lệch. Đối với đường dây mạch kép đi chung cột, điện áp cảm ứng thứ tự không $V_{01} = Z_{01}I_{01} + Z_{0M}I_{02}$ làm sai lệch quỹ đạo tổng trở đo được trên mặt phẳng phức R-X.

Các dữ liệu phân tích này có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ quỹ đạo tổng trở tác động dạng Mho và đồ thị dạng sóng biến thiên tức thời của dòng điện, điện áp từ công cụ SIGRA. Bảng so sánh giữa phương pháp đo một đầu và hai đầu chứng minh rằng thuật toán hai đầu loại bỏ hoàn toàn nhu cầu tính toán thông số thứ tự không vốn chứa nhiều sai số do tính chất không đồng nhất của đất dọc tuyến 32 km. Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các công bố học thuật quốc tế gần đây, khẳng định việc sử dụng thành phần thứ tự thuận là giải pháp tối ưu cho lưới điện truyền tải Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, triển khai thuật toán định vị sự cố dựa trên thành phần thứ tự thuận từ hai đầu đường dây cho toàn bộ các xuất tuyến 220kV và 500kV trọng điểm. Đơn vị thực hiện là Công ty Truyền tải điện 1 phối hợp cùng các Trung tâm Điều độ Hệ thống điện, đặt mục tiêu khống chế sai số định vị dưới 1% và giảm 40% thời gian xử lý sự cố trong giai đoạn 2021–2023.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình đo đạc và định kỳ cập nhật thông số tổng trở thứ tự không thực tế cho 7.463 km đường dây 220kV. Trung tâm Thí nghiệm điện cùng các Đội truyền tải điện cần tiến hành đo đạc thực địa theo chu kỳ 2 năm một lần, nhằm đưa độ lệch thông số $Z_0$ về dưới mức 3%, hạn chế tác động tiêu cực của biến động điện trở suất đất.

Thứ ba, tự động hóa quy trình phân tích dữ liệu dạng sóng bằng cách tích hợp module phần mềm DIGSI và SIGRA tại tất cả các trạm biến áp số. Phòng Kỹ thuật thuộc các công ty truyền tải cần hoàn thành trang bị và đào tạo nhân sự trong năm 2022, hướng tới mục tiêu rút ngắn thời gian trích xuất bản ghi Trip Log từ 120 phút xuống dưới 15 phút sau khi rơle tác động.

Thứ tư, nâng cấp hệ thống chống sét và kiểm tra điện trở tiếp địa tại 92 vị trí cột của tuyến Ninh Bình – Nho Quan. Ban Quản lý dự án lưới điện cần lắp đặt bổ sung chống sét đa tia và tăng cường cách điện pha trong giai đoạn 2022–2025, phấn đấu giảm 25% nguy cơ xảy ra phóng điện ngược do sét đánh vào đỉnh cột.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, kỹ sư bảo vệ rơle và tự động hóa tại các công ty truyền tải điện. Nhóm đối tượng này có thể ứng dụng trực tiếp phương pháp tính toán chỉnh định 3 vùng bảo vệ khoảng cách và thuật toán bù hỗ cảm cho các dòng rơle phổ biến như Siemens 7SA611, SEL-311L hay ABB REL511 trên các tuyến đường dây mạch kép 220kV.

Thứ hai, điều độ viên hệ thống điện và cán bộ quản lý vận hành đường dây. Công trình cung cấp phương pháp luận giúp đọc hiểu và phân tích nhanh đồ thị biến thiên dòng áp trên phần mềm SIGRA, hỗ trợ khoanh vùng chính xác điểm sự cố trong vòng vài trăm mét để điều động lực lượng tuần tuyến nhanh chóng.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kỹ thuật điện. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về quy trình mô hình hóa quá độ điện từ trên ATPDraw với quy mô lưới phức tạp và phương pháp tính toán ngắn mạch theo chuẩn IEC 60909 bằng phần mềm ETAP.

Thứ tư, các đơn vị tư vấn thiết kế và thí nghiệm điện. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về mức độ sai lệch tổng trở đường dây thực tế so với catalog, phục vụ công tác lập phương thức vận hành cho hơn 1.168 km đường dây 220kV mới.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao bảo vệ khoảng cách truyền thống đo từ một phía lại có sai số lớn?

Phương pháp đo một phía bị ảnh hưởng nặng nề bởi điện trở hồ quang, dòng tải trước sự cố và hỗ cảm thứ tự không chiếm 50% đến 70% từ đường dây song song. Khi góc pha dòng điện hai đầu bị lệch, điện trở tại điểm sự cố thể hiện tính chất kháng hoặc dung, làm sai lệch giá trị điện kháng đo được và gây sai số vị trí lên tới hàng chục kilômét.

Phương pháp định vị sự cố từ hai đầu khắc phục nhược điểm này như thế nào?

Thuật toán hai đầu sử dụng hệ phương trình điện áp đồng thời tại hai trạm để triệt tiêu hoàn toàn thành phần điện trở hồ quang và tổng trở nguồn ra khỏi công thức tính toán. Bằng cách sử dụng thành phần dòng áp thứ tự thuận, phương pháp giúp loại bỏ sai số do tổng trở thứ tự không không đồng nhất dọc tuyến 30,77 km, hạ sai số xuống dưới 0,5%.

Giải pháp nào được áp dụng khi các trạm chưa trang bị đồng hồ đồng bộ vệ tinh GPS?

Luận văn đề xuất thuật toán tự đồng bộ góc lệch pha giữa tín hiệu hai đầu đường dây bằng cách sử dụng dữ liệu dòng điện và điện áp thứ tự thuận thu thập được trong chế độ trước sự cố. Phương pháp này tận dụng hạ tầng rơle kỹ thuật số hiện hữu mà không đòi hỏi chi phí đầu tư thêm thiết bị đồng bộ vệ tinh đắt tiền.

Vai trò của phần mềm ETAP và ATPDraw trong nghiên cứu khác nhau ra sao?

Phần mềm ETAP được sử dụng để phân tích chế độ xác lập của 4 dạng ngắn mạch theo tiêu chuẩn IEC 60909 nhằm xác định các dòng siêu quá độ. Trong khi đó, ATPDraw mô phỏng quá trình quá độ điện từ tức thời trên miền thời gian, tái hiện chính xác diễn biến hồ quang 1 kA đến 10 kA và các sóng hài lan truyền trên lưới điện.

Sự cố ngày 09/05/2020 tại cột 74 đường dây Ninh Bình – Nho Quan xảy ra do nguyên nhân gì?

Bản ghi rơle 7SA611 ghi nhận dòng ngắn mạch pha C chạm đất đạt 10,05 kA do sét đánh trực tiếp vào đỉnh cột hoặc dây chống sét. Sự cố tạo ra hiện tượng phóng điện ngược qua chuỗi cách điện đỡ dây dẫn tại vị trí cột 74, làm rơle tác động cắt 3 pha máy cắt với độ lệch khoảng cách đo là 0,51 km.

Kết luận

  • Luận văn đã giải quyết trọn vẹn bài toán nâng cao độ chính xác của bảo vệ khoảng cách và định vị sự cố trên hệ thống lưới truyền tải điện 220kV.
  • Phân tích chi tiết và định lượng được ảnh hưởng của điện trở hồ quang $R_{arc} = 0,28,\Omega$, dòng phụ tải và hỗ cảm thứ tự không chiếm 50% đến 70% trên đường dây song song.
  • Xây dựng thành công mô hình mô phỏng tuyến đường dây 220kV Ninh Bình – Nho Quan dài 30,77 km trên hai công cụ chuyên dụng ETAP và ATPDraw.
  • Chứng minh tính ưu việt của thuật toán định vị sự cố hai đầu sử dụng thành phần thứ tự thuận, giúp triệt tiêu sai số tổng trở đất và đưa độ chính xác định vị đạt dưới 1%.
  • Đóng góp giải pháp kỹ thuật thiết thực giúp giảm 20% đến 30% thời gian mất điện cho toàn bộ hệ thống truyền tải điện trong lộ trình quy hoạch 2021–2030.

Kế hoạch tiếp theo là mở rộng thử nghiệm thuật toán trên toàn bộ 2.977 km lưới 500kV trong giai đoạn 2021–2025. Các kỹ sư và chuyên gia hệ thống điện quan tâm có thể khai thác các công thức và mô hình mô phỏng trong luận văn để ứng dụng trực tiếp vào công tác vận hành và bảo vệ hệ thống điện thực tế.